Thơ Lương Định - vài cảm nhận

            Mới gặp Lương Định, không mấy người nghĩ anh sinh ra ở một lũng núi thuộc Lạng Sơn nằm phía Bắc của Đất nước. Cũng vậy, mới đọc thơ Lương Định, không mấy ai nghĩ anh là con đẻ của dân tộc Tày. Nhưng mà thế đấy:

                                    Tôi – Hòn Đá Lẻ

                                    Quê người thiếu Núi – Núi Quê ơi!

            Xin được bắt chước nhà thơ Đaghextan Raxun Gamzatôv: Tôi sẽ đứng một chân để chỉ nói những điều quan trọng nhất. 

1.  Một cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ

            Chừng hai mươi năm lại đây, nền văn chương hiện đại đa dân tộc của ta xuất hiện một đội ngũ các cây bút người dân tộc thiểu số mang những sắc thái riêng biệt so với thế hệ đi trước. Một trong số những cây bút ấy là nhà thơ Lương Định. Một lần anh thẳng thắn thổ lộ:

                                    Cha không thích những bài ca xưa cũ

                                    Nghe họa mi hót mãi cũng nhàm.

                                                                        (Lời người cha Lũng Núi)

      Không, anh không có ý định khước từ truyền thống đâu. Anh chẳng đã từng ưa ru con bằng bài hát người Tày đó sao! Có điều, để mở ra một con đường/ vực đá chênh vênh trong thi ca, để thoát khỏi lối mòn xưa cũ, thế hệ anh phải đi một con đường khác, phải sáng tạo ra những bài ca mới. Thế là, dầu rất nâng niu trân trọng những gì đã có, anh cùng thế hệ của mình bắt đầu một cuộc lên đường:

                                    Bỏ con dao vào bao

                                    Nhớ mài thật sắc

                                    Khi cần rút ra

                                    Tự mở một con đường…

                                                                        (Lời người cha Lũng Núi)

      Biết bao day dứt, biết bao trăn trở khi phải giã từ núi rừng quyết tìm đường ra với biển cả. Và, do quen nhìn hướng nào cũng gặp đá xám, anh thật sửng sốt trước trời rộng bể xa:

                                    Mắt chúng mình hoá đá

                                    Tim chúng minh hoá đá

                                    Nếu không về với biển em ơi!

                                                                        (Nếu không về với biển)

      Với một người luôn ấp ủ nguyện vọng dùng ngòi bút mài sắc chí đời trai như anh, gặp biển lớn đồng nghĩa với gặp kho tàng tri thức văn chương vô cùng tận của dân tộc và nhân loại. Và thơ Lương Định chính là sự kết tụ ở một mức độ nào đó nguồn mạch thi ca đã thành cổ điển. Tôi thật sự cảm nhận được linh khí của Văn chiêu hồn qua câu thơ: Mưa lâm thâm, gió chập chờn (Day dứt). Phảng phất trong câu Chí trai bạc tóc phong trần (Em là cõi ta về) chính là hồn thơ Nguyễn Công Trứ. Rồi đây nữa, hồn cốt của Hàn Mặc Tử, Bích Khê: Trút lên giấy: cả linh hồn, khí huyết (Tri âm). Đặc biệt, rất nhiều, rất nhiều nỗi lòng cùng thân phận Nguyễn Bính: Hồn tha phương Nguyễn Bính lạc phương nào? (Tri âm). Tôi đồng thời nhận ra dấu ấn của một Raxun Gamzatôv lên thơ anh, từ tâm tình giọng điệu đến ngôn từ hình ảnh, chả khó khăn gì:

                                    Khi đi rừng

                                    Nhớ mang dao…

                                                                        (Lời người cha Lũng Núi)

      Lương Định sống trong một thời đại đã nhiều phần khác trước. Muốn trở thành nhà thơ thực thụ của dân tộc mình, phải học nhiều, nhiều lắm. Dường như không có ngoại lệ. Mà hầu như cũng chẳng thể có đường tắt. Nhưng học để tạo cho mình một lối đi riêng thì quả không một chút dễ dàng. Tự trong sâu thẳm lòng mình, Lương Định bao giờ cũng thấm thía điều đó:

                                    Lối trong rừng

                                    Không ai mở sẵn

                                    Bằng con dao sắc của mình

                                    Con tự mở lối đi…

Có thể xem bài Lời người cha Lũng Núi với những câu thơ như vậy là tuyên ngôn của thơ anh, nghĩa là của đời anh.

            Trong văn chương, nhất là trong thi ca, tự mở ra một lối đi đồng nghĩa với việc tự tìm mình, tự khẳng định mình. Theo truyền thuyết, câu Hãy nhận thức bản thân mình được khắc ở đền thờ thần nghệ thuật Apolon tại Đenphơ. Nhà mỹ học vĩ đại Sôcrát cũng thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu này. Tôi nhớ giáo sư Lê Đình Kỵ có lần khen chỗ mạnh của nhà thơ nọ là “viết có tình”, đồng thời chỉ ra chỗ yếu là “những bài thơ có một sắc thái riêng, một đời sống riêng chưa nhiều”. Cái lẽ tưởng như hiển nhiên này hình như chưa được thấm nhuần thật sâu thật rõ trong ý thức và trong dụng bút của không ít nhà thơ trẻ hiện nay. Tôi nói vậy vì một số cây bút trẻ còn mang một mặc cảm tai hại trong việc bộc lộ cái tôi trong thơ. Họ cho rằng thi ca càng lộ rõ cái riêng thì càng ít có điều kiện tìm đến cái chung. Một quan niệm như vậy nhiều lắm chỉ sản sinh ra được những câu thơ hữu dụng một cách nhợt nhạt vốn quá dư thừa trong rừng thi ca hiện nay. Vấn đề ở đây là cái riêng nào? Có xa lạ hoặc đối lập với cái chung hay hoà hợp làm phong phú thêm cái chung? Tôi không thể hình dung nổi những câu thơ hay lại không được thôi thúc từ nỗi riêng lớp lớp sóng dồi. Vì vậy mà tôi càng quý tiếng thơ Lương Định hơn. Quả là anh không ngại, ngược lại, luôn có ý muốn, thậm chí luôn có khát vọng bộc lộ rõ mình:

                                    - Ta li đắng em li nồng…

                                    - Ta lạc về đâu? Em là ai?

                                    - Ta đem đánh bạc khắp trần gian…

                                    - Ta như chiếc lá không lời cuối thu…

            Chúng ta thường bắt gặp một con người có trái tim nồng nhiệt luôn sống hết mình:

                                    Tim ơi cạn máu vì yêu

                                                                        (Day dứt)

 Tôi không nhận ra chút đại ngôn nào ở đây cả. Câu thơ vang lên một cách tự nhiên như được thốt ra, không thể nào khác thế. Cũng không thể khác khi anh bộc lộ lòng mình trong Lời tỏ tình muôn thuở:

                                    Ta yêu nhau

                                    Thế gian không đủ lời giãi tỏ.

      Lương Định vốn xa lạ với những kẻ không muốn, không biết, và không dám là mình:

                                    Vui không hết mình

                                    Buồn không tận cùng

                                    Đến cả say

                                    Cũng chẳng dám quên mình

                                                                        (Sông Phố Quán)

      Anh hoàn toàn có lý. Trong tiệc rượu cũng như trong cuộc đời, đáng sợ nhất không phải kẻ say, cũng không phải là những kẻ dở say dở tỉnh, mà chính là những kẻ lúc nào cũng tỉnh queo như muốn tránh xa mọi hệ luỵ của cuộc đời.

      Công cuộc đào bới, phanh phui những trải nghiệm của bản thân đã giúp Lương Định khám phá ra nhiều điều bất ngờ và thú vị. Ấy là bởi anh bao giờ cũng sống thật với chính mình và biết cách thổ lộ ra dưới hình thức thi ca thường mang vẻ đẹp riêng. Về đường tình duyên éo le, trắc trở của mình, Lương Định đã viết:

                                    Hợp, tan dăm bảy cuộc tình

                                    Bạc đầu mình lại là mình đơn côi

                                                                        (Rượu tha phương)

      Còn đây là lối tỏ tình chấp nhận đã khó, làm theo, làm theo một cách tự nhiên còn khó hơn nhiều:

                                    Ta nói với nhau

                                    Bằng da thịt mình…

                                                                        (Lời tỏ tình muôn thuở)

      Nhưng thôi, đó là những cái riêng nếu có sơ xảy cũng dễ được người đời bao dung thể tất. Còn đây là cái chung, cái vô cùng nhạy cảm lại dễ đụng chạm mà Lương Định vẫn cứ là Lương Định: Tha hương giữa chốn quê nhà (Rượu tha phương). Không ít phiền toái nảy ra từ đây. Nhiều người đã không chịu nổi cái giọng ngạo nghễ viết cứ như không ấy của anh. “Vi văn bất tác khinh bạc ngữ”. Phải nói là họ cũng có cái lý của riêng họ, trách cứ sao được. Nhưng rồi cuối cùng, không ít thì nhiều, người ta cũng xí xoá đi khi kịp nhận ra tấm lòng chân thực ở nơi anh. “Luận sự thường tồn trung hậu tâm” phải chăng là như vậy. Tuy nhiên nói thế nào thì sự thật vẫn cứ là sự thật… 

2.  Một nỗi buồn thật khó nguôi ngoai

      Đọc Lương Định, ta dễ bắt gặp một nỗi buồn da diết và lắng sâu:

                                    Ngày buồn tênh, tối ưu tư

                                    Bao nhiêu vò rượu không ru nổi lòng

                                                                        (Day dứt)

      Đọc kỹ, ta nhận ra không còn là nỗi buồn mà thật sự là nỗi đau - một nỗi đau đời khắc khoải. Có lần, anh đã viết về Hàn Mặc Tử trong nỗi nhức nhối của chính lòng mình:

                                    Phải hồn – thi nhân

                                    Cắn xé vầng trăng…?

                                                                        (Vầng trăng Hàn Mặc Tử)

 Vậy cội nguồn của nỗi buồn, nỗi đau kia là ở đâu? Anh gắng giải thích:

                                                Nước non xưa nước non sau

                                                Mãi còn thân phận bể dâu đời Kiều

                                                                        (Day dứt)

 Không phải anh không có lý đâu! Aitmatov từng viết: “Người ta thường hỏi tôi tại sao truyện của tôi có xu hướng xây dựng trên mặt bi thảm. Câu trả lời của tôi bao giờ cũng là: Điều đó không chỉ tuỳ thuộc ở tôi. Con người vốn là một sinh vật bi thảm. Ngay khi nhận thức được cuộc sống chung quanh, con người phải từ biệt cuộc sống đó. Bi kịch con người nằm ở đây…” (Nhà văn bàn về nghề văn). Vậy thì viết về nỗi đau đâu chỉ hoàn toàn tuỳ thuộc vào người nghệ sĩ. Có điều, chính mối giao cảm của người nghệ sĩ đã quyết định việc chuyển hoá cuộc đời vào văn chương:

                                                Thì đi cuối đất cùng trời

                                       Mà quỳ trước mọi con người khổ đau

                                                                                    (Day dứt)

Trong chiều sâu thẳm của thơ Lương Định có cái cốt cách nhân bản vững vàng ấy. Tuy thật ra, nguyên cớ mọi nỗi đau buồn trong anh riêng tư và cụ thể hơn nhiều…

            Lòng Lương Định luôn chất chứa bao nỗi khát khao: Ta – hòn – đá - lẻ: mơ nay về trời… (Em là cõi ta về). Hơn một lần ta bắt gặp hình ảnh chim ưng, đại bàng trong thơ anh. Có thể, như bao người miền núi khác, anh được kích thích bởi những đôi cánh dẻo dai, kiêu hãnh vun vút xé trời giông của loài chim đại ngàn. Nhưng nguyên do chính có lẽ ở chỗ khác: ở nỗi khát khao bay liệng giữa bầu trời cao rộng của những cánh chim không từng biết đến cuộc sống tù túng tầm thường. Anh có hẳn một bài thơ viết về Chim ưng. Chẳng tránh né hay úp mở bóng gió, anh viết: Ta như chim ưng/ Ngày kia rời núi/ Tự do giữa trời xanh lồng lộng/ Lượn bay…/ Vời vợi/ Đơn côi.

      Ai có thể thay anh làm chủ những ước vọng của riêng anh, hỡi chàng thi sĩ luôn ngẩng cao đầu kia? Nhưng hễ còn đi là hẳn còn gặp trở ngại. Có lúc cái đích cứ xa vời chập chờn phía trước. Không ít ngập ngừng, chao đảo. “Đơn côi”… là có thật. Khó mà thoát khỏi sự bủa vây của nó:

                                   Say tìm bờ bến lạ

                                    Mờ mịt…xa mù xa

                                    Cánh buồm mong manh quá

                                    Bão bùng…rồi có qua?

                                                                        (Tự bạch 93)

Thật đáng khâm phục cánh buồm mong manh ấy. Mà cũng thật đáng kiêu hãnh cánh chim hùng dũng kia: Ôi!/ Chim ưng/ Không thể sống thiếu trời xanh/ Không thể sống thiếu núi non… (Chim ưng).

Mâu thuẫn, khối mâu thuẫn dai dẳng thường xuyên trong thơ Lương Định nằm ở ngay đó: vừa không thể sống thiếu trời xanh, vừa không thể sống thiếu núi non. Muốn thoả nguyện, phải rời xa xứ sở thân quen với một lời nguyền như dao chém đá: Chí làm trai chưa thành: không hồi xứ (Đêm rượu tình tái ngộ). Mà xa quê thì phải chấp nhận nỗi xót xa trong niềm thương nhớ không nguôi:

                                    Tha hương rượu uống mềm môi

                                    ruột gan đau đáu, nói cười vu vơ

                                                                        (Rượu tha hương)

Sông Kỳ Cùng quê hương chảy hoài trong tâm tưởng anh cùng năm tháng:

                                    Kỳ Cùng, chảy giữa hồn quê

                        Phút giao thừa chảy qua mê hồn mình

                                                                        (Trầm tư giao thừa)

            Xin cảm ơn thi sĩ đã hiến cho ta những câu thơ nói về nỗi buồn xa quê thấm thía và xúc động dường ấy! Chỉ tiếc là có lúc ngòi bút của Lương Định đẩy nỗi buồn đi quá xa nên thật khó tìm được sự đồng tình của nhiều người:

                                                Lãng du góc biển chân trời

                                     Nửa đời tìm: Vẫn không nơi ẩn mình

                                                                                    (Rượu tha hương)

      Khi tuyệt đối hoá thân phận của loại người mà Lương Định gọi là “xa xứ”, “tha hương” giữa chốn quê nhà, thực tâm đôi lúc anh cũng thấy có phần chưa phải: Ta sám hối không cần ai rửa tội (Đêm rượu tình tỉnh ngộ). Sự cường điệu thường khó tránh khỏi cực đoan. Tuy “chí làm trai” khi buộc lòng chấp nhận “xa xứ”, xa Lũng núi ở chàng trai kia thì thật đáng để ta suy ngẫm:

                                    Lang thang trăm xứ nay dừng lại

                                    Bỗng nhận ra mình tay trắng tay không

                                                                                    (Chí trai)

      Không tự hài lòng với mình nghĩa là không được phép và không thể dừng lại. Ta có quyền tin vào nghị lực của anh… Và ta cũng có cơ sở tin vào nguyên cớ thúc giục anh viết nên dòng thơ này:

                                    Câu thơ nghĩa khí đâu cần minh oan

                                                                                    ( Em là cõi ta về)

Phớt lờ người đọc thì không nên. Còn niềm tin vào ngòi bút trung thực của mình thì nên, rất nên chứ!

      Đọc Lương Định tôi cứ hay nghĩ tới bài Tây nguyên khác thường của anh. Ở đây, Lương Định phát hiện ra những con người thật “khác thường”:

                                    Cõng mặt trời trên lưng bỏng rát…

                                    Uống đến cạn nguồn sông

                                    Suốt đời chưa hết khát…

  Anh đồng thời phát hiện ra những ngôi nhà cũng thật “khác thường”:

                                    Những mái nhà rông sắc lẹm lưỡi rìu

                                    Chém ngược vào trời xanh truyền thuyết.

      Nghĩ cho cùng, con người anh là vậy, mà thơ anh cũng là vậy! Cho phép tôi được yêu cái sắc lẹm của những vần thơ luôn có xu hướng chém ngược vào những gì nhợt nhạt, sáo mòn… Và có lẽ, cái đáng quý nhất của thơ Lương Định là ở chỗ đó chăng?

                                                                                                                                    Đà Lạt, 10/10/1997

 

 

Comments