Thơ kính tặng vợ của Lâm Quý

Từ kính tặng tôi mượn của thi sỹ lừng danh Nguyễn Duy. Anh có hẳn một tập thơ thăm thẳm nghĩa tình nổi tiếng dành riêng tặng vợ có tựa đề là Vợ ơi. Ít người biết rằng, nhà thơ dân tộc Cao Lan Lâm Quý của chúng ta viết về người vợ nhiều không kém, đặc sắc không kém, nhất là rưng rưng xúc động không kém. Xin được ngẫu nhiên rút ra một khổ thơ của anh:

Mỗi lần về đến nhà ơi

Bếp nhen lửa ấm nước sôi pha trà

Nựng thầm những đứa con hoa

Mắt thầm liếc giấu chồng xa mới về

Biểu lộ sự ân tình của vợ đối với chồng như vậy, bảo là bình thường thì quả là bình thường, riêng tôi để ý đến cách bộc lộ. Cách ấy bảo là dung dị thì đúng là dung dị, nhưng, hỡi các nhà thơ, hãy thử viết những dòng thơ trong như nước suối nguồn như thế đi, chẳng dễ đâu! Khó nhất là sự bộc lộ tâm lý rất là miền núi (mà không, rất là Việt Nam chứ!): Mắt thầm liếc giấu chồng xa mới về.

Đọc thơ viết về vợ của Lâm Quý, tôi cứ vô tình làm một phép so sánh. Là để nhận ra cái riêng thôi, không hề có ý đối sánh để đi tới đối lập đâu! Tôi muốn so sánh với những bài thơ viết về người yêu của anh. Trong chuỗi bài thơ liên hoàn tôi gọi là Ở nơi ấy… có bài Gói lời này:

Ở nơi ấy có một người

Gặp nhau chẳng nói nên lời nữa đâu

Gói lời trong lá ước ao

Tan đi để lại tình xao xuyến tình.

Thẩm định những vần thơ ấy, bảo là tài thì thật là tài, nhưng đó chỉ là thứ tài hoa chứ chưa phải là tài tình. Khi anh viết về người vợ yêu má ấp tay kề thì khác hẳn. Không tin ư? Xin mời bạn hãy đọc một bài cũng thuộc loại Ở nơi ấy… để thêm một bằng cớ:

Ở nơi ấy có một người

Nuôi con tần tảo suốt đời thay tôi

Nửa đêm con ngủ say rồi

Nàng dành nửa gối mong tôi trở về.

Bài thơ anh viết lâu rồi, vào thời binh lửa ác liệt kia. Có một câu chuyện vui vui. Nhà thơ Lâm Quý sinh hạ bài thơ này không trong bệnh viện (thời chiến tranh làm gì có điều kiện!), mà ở rừng Trường Sơn đông nắng tây mưa. Rồi anh quên khuấy đi. Nhiều điều vào thời ấy hệ trọng hơn kia. Nếu không có một sự tình cờ may mắn thì di sản thi ca các dân tộc thiểu số Việt Nam đã vô tình bỏ rơi hạt ngọc lấp lánh ấy rồi. Chẳng là, một đồng đội năm xưa, thấy câu thơ nói đúng lòng mình quá, bèn chép gửi về cho vợ nơi hậu phương. 18 năm sau, trong buổi gặp mặt lứa bạn bè một thời cầm súng, vợ người đồng đội kia xúc động đọc một bài thơ vô danh đã từng giúp chị vượt qua những thử thách khắc nghiệt của những năm tháng dằng dặc cách xa. Nhà thơ Lâm Quý sung sướng bởi bất ngờ nhận lại đứa con tinh thần bấy lâu bị thất lạc của mình. Nhưng tôi biết anh còn sung sướng hơn khi nhận thấy thơ mình không đến nỗi vô vị trước cuộc đời bao nhiêu hệ luỵ này.

Tuy, ít người biết được rằng, chính người vợ yêu của nhà thơ - chị Trần Thị Sình, lúc đầu đón nhận tài sản thi ca của  chồng mình không quá vồ vập lắm đâu. Bằng cớ là khi tập thơ Điều thật từ câu dân ca của Lâm Quý vừa mới ra lò, anh nâng niu tặng vợ, nhưng được đáp lại ra sao nhỉ? “Thơ anh đọc ngang như cua ấy”- Chị Sình bảo thế. Ấy là vì thơ anh chẳng du dương vần vèo như nhiều bài thơ chị quen đọc, đúng hơn là chị quen ngâm. Đọc thơ anh trúc tra trúc trắc, khó nhọc cứ như leo núi vậy. Mà quê anh, quê chị thì nhiều núi lắm. Chẳng phải anh đã từng lấy đất, lấy đá tạo thành thử thách tình yêu trong thơ mình là gì: Em như là con dúi/ Lận lụi đào rễ lau/ Anh làm thuổng mo cau/ Đào tung trời tung đất/ Đất có sâu đến mấy/ Đá có ken thế nào/ Anh vẫn cứ say đào/ Cho gặp lòng thương nhớ. Chị đâu biết, thơ có nhiều kiểu hay, như người đàn bà có nhiều kiểu duyên. Anh ấm ức lắm! Bạn thơ khen hay, các nhà phê bình khen hay. Riêng vợ mình… Ôi! Có ai gần gũi mình hơn vợ! Ai  thấu lòng mình hơn vợ! Vậy, vậy mà… Uất quá, đêm ấy anh quyết định nằm ở nhà ngoài. Lẽ dĩ nhiên anh tìm đến rượu, vì người có lúc ngủng ngoẳng, còn thơ với rượu là không ly dị như có lần anh đã lớn tiếng tuyên bố kia mà. Có điều, lạ không, rượu lần này càng uống lại càng… tỉnh. Tỉnh như chưa bao giờ tỉnh đến thế. Bài Thơ gì… bật ra:

Thơ gì ngang giá như cua cặp

Đau đấy mà ngon như váng riêu

Mẹ nó mò cua trời nắng nắng

Cua rang rượu nhắm với tình yêu

Cái hay là đau đấy mà không một chút tỏ ra cay cú. Có thế anh mới tìm đến phép ẩn dụ tuyệt vời: lấy tay bắt mũi tên của đối phương mà bắn trả. Thơ tôi ngang như cua ư? Nhưng đó chính là cua ngon, do bàn tay mình góp sức tạo nên chứ có lạ gì đâu: Mẹ nó mò cua trời nắng nắng. Nhưng cua ngon sao được nếu không nhờ hơi rượu để nhắm với tình yêu. Thơ là vậy! Cái hay của thơ là vậy! Và tôi dám chắc là sau khi hưu chiến, bình tâm đọc lại chính bài thơ làm tên chung cho cả tập thơ kia, chị Sình sẽ nghĩ lại, nghĩa là nghĩ khác. Bài thơ có những ý thơ phải nói là thần tình: Câu dân ca là vỏ/ Bao quanh hạt giống tình/ Mẹ đem gieo xuống đất/ Mọc lên cây yêu thương/ Ta chăm chút sinh ra quả nhớ. Vẫn là những câu thơ về ta  mình, mà nghe sao lạ quá chừng.

Đọc những vần thơ tặng vợ của nhà thơ Lâm Quý giúp ta ngẫm nghĩ bao điều về sự đời, và cả sự… thơ. Đó là một trong nhiều lý do khiến tôi và các bạn quý từng vần thơ hay của anh. Và cả  rừng thơ xanh thắm tình đời, tình người của anh nữa.

                                                                                                             Nhà Sáng tác Nha Trang, 6/2006