Thơ Inrasara - Phú Trạm, đến từ quan niệm

       Tôi muốn gọi tên thật đầy đủ của anh, cả tiếng Chăm lẫn tiếng Việt. Nhớ lại ngày đầu chúng tôi quen nhau. Hai năm về trước, vào những ngày hè 1996. Trại viết của Hội Nhà văn. Bên hồ Đại Lải. Cảnh non nước phong quang. Gần đó là khu di tích Đền Hùng… Mới gặp nhau, đến cái tên cũng còn bỡ ngỡ. Tôi cứ nhẩm, nhẩm hoài mà vài ngày sau vẫn chưa nhớ nổi tên anh. Lúc nhớ được Inrasara thì quên Phú Trạm, khi không quên Phú Trạm thì lại không nhớ nổi Inrasara. Rồi cũng thành quen. Đến giờ cái tên ấy trở thành thân thuộc…

      Có một kỷ niệm, chỉ dành cho tôi. Đó là những ngày hè oi bức. Tối đến, cái nóng cũng không tha. Đêm đã vào khuya, chừng 11 giờ. Tôi bước ra hiên hít thở không khí trong lành chuẩn bị cho một giấc ngủ sâu. Phòng kế bên, nơi ở và viết của “Con gấu rừng Lạng Sơn” Lương Định và “Ngọn tháp cổ” Phan Rang Inrasara – Phú Trạm. Tò mò, tôi ghé mắt nhìn vào bên trong. Đập vào mắt tôi là vầng trán ưu tư rực sáng trước ngọn đèn bàn. Anh bạn người Chăm của tôi đang nghĩ và viết:

                                    Khuôn mặt trầm tư nghiêng xuống dòng đời

                                    Bên tách trà nửa khuya, người dưỡng nuôi hơi thở

                                    Hơi thở phong nhiêu làm bao la ánh lửa

                                    Chuyển dịch hơi thở - chuyển hoá hồn người

                                                                                    (Kẻ canh đêm)

      Đang nghĩ gì và viết gì vậy, anh bạn trẻ giàu khát vọng mà cũng rất giàu nghị lực của tôi? Điều chắc là anh không chỉ nghĩ và viết về mình và cho riêng mình. Anh bảo: “Dân tộc Chăm có truyền thống văn học lâu đời, nhưng đến nay chưa có một sáng tác của người Chăm nào được công bố cả… Thơ tôi cả tiếng Chăm lẫn tiếng Việt được anh em truyền tay nhau đọc nhiều năm nay…”. Trong sâu thẳm thi ca, nếu không có gì liên can giữa hồn anh và bao hồn khác thì làm sao có được sự ưa thích ấy. Thơ anh viết bằng cả tiếng Chăm và tiếng Việt. Ngôn ngữ đã chắp cánh cho thơ anh, để những gì anh luôn hoài vọng trong âm thầm, trong trăn trở, có điều kiện bay xa, bay cao:

                                   

                                    Giữa dòng ngôn ngữ đang hoang đãng

                                    Phôi thai nơi góc khuất tâm hồn chôn

                                                                        trú ẩn linh thiêng.

                                    Phôi thai trên chóp núi u huyền nguồn suối

                                                                        trinh nguyên.

                                    Trầm chảy qua rừng đồi làm thành dấu hỏi

                                                                                    (Kẻ canh đêm)

      Tôi không được rõ Inrasara theo ngôn ngữ Chăm nghĩa là gì? Lần gặp nhau mới đây, ở chung phòng, dịp Hội nghị văn học Tây Nguyên tại Ban Mê, tôi định hỏi, lại quên. Đúng hơn là ngài ngại. Biết nhau đấy, có thể xem là thân nữa, vậy mà vẫn ngại. Tính tôi thế! Mà nghĩ cho cùng thì cái tên có gì thật hệ trọng đâu. Cái chất, cái hồn mới đáng nói chứ! Anh tâm sự: Quê anh ở plây (làng) Mỹ Nghiệp, huyện Ninh Phước, Ninh Thuận… Đó là làng cổ duy nhất có tên trong Bia ký còn sót lại. Ông anh rất giỏi thơ phú. Cha anh là người nông dân bình thường nhưng như bao người Chăm cần cù khác rất quý sách và rất ưa đọc sách:

                                    Mẹ nuôi tôi bằng bầu sữa ca dao buồn

                                    Cha nuôi tôi bằng cánh tay săn Glang Anak

                                    Ông nuôi tôi bằng vầng trăng sương mù

                                                                                    truyền thuyết.

                                    Plây nuôi tôi bằng bóng diều, hồn dế, tiếng mõ trâu

                                                                                                (Đứa con của đất)

      Chợt hiểu tại sao trong thơ mình anh hay nhắc tới ariya (nghĩa là thơ và trường ca theo tiếng Chăm), nhất là thi phẩm cổ nổi tiếng của người Chăm có tên là Glang Anak. Tuy dân tộc anh còn lưu giữ những bản trường ca khác như Pauh catwai có câu mở đầu thật đặc trưng:

                                    Suy tư theo dòng đời

                                    Viết Poh Cha tôi theo lời thơ.

      Một dân tộc như vậy, cố nhiên, không chỉ có bản tính cảm xúc mạnh mà còn có khả năng suy nghĩ sâu. Trường kỳ lịch sử đã tạo lập cho người Chăm một nền văn minh thâm hậu, như tháp Chàm phong rêu – uy nghi, bí ẩn và trầm mặc. Inrasara chính là con đẻ của nền văn hoá ấy. Từ mạch tư duy này tôi tìm đến quan niệm thi ca của anh, tìm đến cái dẫn dắt anh viết nên những vần thơ đang được nhiều người nhắc tới trong tập được Giải thưởng của Hội nhà văn 1997 Tháp nắng và mới đây là tập Sinh nhật cây xương rồng.

      Đọc thơ inrasara – Phú Trạm, nhà thơ Nông Quốc Chấn có đưa ra nhận xét: “Tôi thấy tác giả thể hiện tâm hồn thi sĩ hơn là tư duy của nhà lý luận”. Vậy là có sự hiện diện của nhà lý luận trong thơ anh rồi! Gương mặt của con người lý luận không nổi trội, không lấn áp con người thi sĩ ấy ra sao đây? Nói khác đi, thơ là gì trong quan niệm của anh?

      Có nhiều hình ảnh luôn trở đi trở lại trong thơ Inrasara – Phú Trạm: Quê hương, Cố quận, Con đường, Tháp cổ, Cây xương rồng… Với anh, thơ trước hết là sự chung đúc hơi thở của cuộc đời. Anh viết trong Sinh nhật cây xương rồng rằng: “Bài ca kết tinh từ hơi thở con đường tôi đi qua”. Thơ không phải là cuộc đời trần trụi, thơ chính là cuộc đời được lên men qua trải nghiệm tâm linh của chính nhà thơ. Muốn thế, thơ cần chấp nhận cái chiều thứ 3 của thực tại có tên là vị lai:

                                    Cặp tình nhân hãi cả ước mơ

                                    Chị chôn đứng bên này bờ thường nhật

                                                                        (Bài thơ không viết)

Bởi, nếu không từ bệ phóng của tương lai thì quá khứ và hiện tại không thể bay bổng cho được. Rồi ngôn ngữ, công cụ trong tay nhà thơ, cũng phải đổi khác:

                                    Ngôn ngữ quẩn quanh hàng rào sự thật

                                    Trăm ngõ ra chẳng lấy một lối vào.

                                                                        (Bài thơ không viết)

      Cái chân lý giản đơn ấy, nào phải ai cũng nhìn thấy, lại thấy rõ được như anh. Thơ là cuộc sống được ủ men, được chưng cất hoá thành hương thơm, chất say của rượu nồng. Song, ai cũng biết, điều cốt lõi bao giờ cũng nằm ở phía bên kia, ở phía cuộc đời. Tôi bắt gặp cái nhìn tỉnh táo này của anh không phải một lần. Chẳng hạn, trong bản trường ca Quê hương khi nhà thơ tuyên ngôn:

                                    Hành trình đi tìm hơi thở - hành trình

                                                                                                 từ Đất

      Rất biện chứng khi đặt sau những câu này:

                                    Ôi! Em yêu Đất vô cùng nhưng em phải xa

                                                                                                rời Đất

                                    Tìm hơi thở cho Đất hồi sinh

      Tôi xin lưu ý: Đất trong những câu thơ trên được tác giả viết hoa nhằm chỉ cuộc đời. Nói như một ai đó, siêu gì thì siêu cũng cần đặt trên nền của cái thực. Không phải nhà thơ của chúng ta không biết quý Paul Eluard. Có điều, anh quý trọng cái thật của Đất, của Đường, của Đời hơn:

                                    Thuở những Paul Eluard còn lang thang

                                                                        trong vòng vây siêu thực

                                    Mắt ưu tư tìm gõ cửa chân trời

                                                                        (Bước tam cấp cuộc đời)

      Ta hiểu cái gì đã khiến anh không chút quanh co, không chút ngại ngùng mà viết:

                                    Và thơ tôi ơi!

                                    Hai mươi năm rồi thơ yêu tôi

                                    Thơ đong cho tôi nghìn giọt mật

                                    Giọt nồng cay, giọt bay bổng nhất

                                    Thơ đã cùng tôi băng mọi nẻo đường

                                    Nẻo đường nào chẳng dẫn đến Quê Hương

                                                                        (Trường ca Quê Hương)

      Vâng, quê hương, đó là thực tại lớn nhất, bao quát nhất trong cảm nhận của anh. Anh kể: Quê tôi nghèo lắm, ruộng ít, đất lại cằn, không thể giàu lên nổi:

                                    Ôi, quê hương, quê hương

                                    Quê hương gầy, quê hương xanh xao

                                    Quê hương không có rặng dừa thơ mộng

                                                                                    của ca dao

                                    Quê hương không có ánh cò xa, không

                                                            có bản tình ca thôn dã

                                    Mây trắng. Mặt trời. Gió trùng dương.

                                                                                    Đất. Đá

                                                                        (Trường ca Quê hương)

      Nhưng anh quyết không bao giờ chịu đánh đổi. Có một chuyện ngụ ngôn ý vị về con chim Quốc và bụi mận gai. Trong lồng son, hàng ngày con chim kêu rất thảm thiết: “Quốc! Quốc! Quốc!”. “Chắc nó nhớ quê hương và nơi sinh ra nó phải là một xứ sở giàu có!” - Người chủ của chiếc lồng chim nghĩ vậy và quyết định thả chim ra, biết đâu lại chẳng có cả một vương quốc trong mơ. Thế nhưng, có lạ không, con chim vỗ cánh bay chừng mười mét liền đậu xuống bụi mận gai xơ xác. Inrasara – Phú Trạm là vậy. Mà thơ anh cũng vậy, nguyện lấy nguồn nuôi dưỡng dồi dào, trong trẻo nơi quê hương nghèo khó của mình. Anh có bài thơ Nỗi buồn ứng trước với những giả định có thể nói là thật lòng và đáng yêu:

                                    Rồi một ngày em đi

                                    Xa cái chạng gầy, bỏ bờ cỏ dại

                                    Xa tiếng mõ trâu chiều, bỏ thằng Klu xóm dưới

                                    Bốn mùa thơ anh gọi

                                    Hụt hơi

      Quê hương trong Inrasara – Phú Trạm có địa chỉ rõ ràng: Chính nơi đã sinh ra anh, có ngọn gió lang thang cánh đồng miền Trung nhỏ hẹp, đồng thời có đôi mắt tháp Chàm mất ngủ xanh xao (Đứa con của Đất). Quê hương trong thơ anh còn được mở rộng hoá thành Đất nước, nơi chung sống thân thiện của 54 dân tộc anh em như: Năm ngón tay trên bàn tay có ngón ngắn ngón dài/ Ngón chỉ đường, ngón thì đeo nhẫn/ Ngón bắn bi, ngón gẩy đàn, ngón chuyên làm dáng/ Năm ngón thu vào tạo sức mạnh nắm tay. Anh đã nhìn bằng cái nhìn của thời đại mới, đúng đắn hơn, sáng tỏ hơn mà cũng thực tế hơn. Những vần thơ sau đây do vậy đã nhập thẳng vào đường băng thời đại để có thể nói theo cách nói của Chế Lan Viên: “Bay theo đường dân tộc đang bay”:

                                    Ôi quê hương! Quê hương

                                    Hơi thở từ không hư lớn dậy đến vô cùng

                                    Hơi thở trầm, sâu tạo hình đất nước

                                    Giữa đêm tối dày mò “đất nước hình tia chớp”

                                    Trong ánh sáng vỡ oà, đất nước đậm nổi

                                                                        đường cong xanh                               

                                    Châu thổ vàng hai đầu – đòn gánh

                                                                                    miền Trung

                                    Bốn ngàn năm mẹ còng lưng không nghỉ

      Tôi biết, để đến được cái điểm cần đến anh đã tự vượt mình ghê lắm. Nhưng cái quan trọng chính là đích đến. Xin chia sẻ niềm hạnh phúc như vỡ oà trong anh bật lên thành tiếng reo vui đến rưng rưng lệ:

                                    Nâng hồn tôi bay xa bay cao

                                    Cao khỏi tư tưởng nhỏ nhen, khỏi mưu mô

                                                                                                ti tiện

                                                                                    (Trường ca Quê hương)

      Có điều, trên đường đi tới, quê hương anh, quê hương của chúng ta vẫn chưa phải đã hết trở ngại, khó khăn. Nhà thơ có trách nhiệm không thể hài lòng với những bản tụng ca dễ dãi và sáo mòn. Thơ và nhà thơ cần phải cau vầng trán (Thực tại). Không một chút do dự, không một chút dửng dưng, Inrasara – Phú Trạm đã xắn tay lên:

                                    Người viết lên vầng trán xanh xao của

                                                                                                đêm tối

                                    Thức giấc vạn bước chân toan làm bằng an

                                                                                    (Kẻ canh đêm)

      Còn nguyên vẹn kỷ niệm về sự ra đời của câu thơ đầu tiên. Nó như dự đoán về chặng đường thơ chẳng mấy thênh thang và vì vậy căng phồng những suy nghĩ sau này của anh:

                                    Câu thơ đầu đời tôi kẻ bằng que khô lên

                                                                                                vòm cát

                                    Cây xương rồng nói với tôi nỗi vô thường

                                                                                    của dấu chân qua

                                    … Nói với tôi về một thời không quên dù

                                                                                    không gợi nhớ

                                                                        (Sinh nhật cây xương rồng)

      Ngẫm kỹ, thơ anh cũng như loài xương rồng ấy, bám chắc rễ vào mảnh đất khô cằn, hanh hao của quê hương, để bật lên thứ “hoa tâm linh” như nhà thơ Hoàng Cát đã từng phát hiện:

                                    Ta hiểu rồi: Mi âm thầm chịu đựng

                                    Vắt kiệt xương mình thành hoa tâm linh

                                                                        (Ngôi sao biếc)

  Và còn để bật lên một bài học quý giá cho những ai muốn đi tìm cái vĩnh hằng của thi ca chân chính. Tôi chợt nhớ đến bài thơ tặng Trúc Thông – Những nẻo đường bỏ quên của anh:

                                    Còn lại với ta

                                    Những xanh nõn giấc mơ chợt rụng

                                    Những tiếng nói ngàn năm câm lặng

                                    Những bài ca chưa hát bao giờ…

            Rõ ràng Inrasara – Phú Trạm không chỉ xa lạ với những vần thơ xanh xao (Con đường), mà còn xa lạ với ngay cả những câu thơ xanh đèm đẹp, vui vui nữa:

                                    Giã từ câu thơ xanh tôi hối hả

                                                                        đi ngược hoàng hôn

                                    Tôi hối hả sống hối hả yêu hối hả ôm

                                                                        mang hối hả

                                    Đi

                                    Và đi

                                    Và đi…

                                                                        (Sinh nhật cây xương rồng)

            Chỉ những vần thơ lay động tim ta, thức tỉnh trí ta mới mong có ích cho đời. Cho cả những kẻ tưởng đã mất hết niềm tin và hi vọng:

                                    Một đóa hoa dại đung đưa trên vách tường

                                                                                                nhà tù

                                    Và một tiếng chim hót lên với đóa hoa

                                    Cũng đủ cho tù nhân chiêm nghiệm

                                                                        (Đoản thi thứ hai dành cho con)

            Và tôi tin đấy chính là niềm tin của nhà lý luận bên trong con người thi sĩ của Inrasara – Phú Trạm:

                                    Nguyễn Trãi đau nỗi đau đất trời

                                    Năm thế kỷ sau câu thơ còn xót

                                                                        (Bài thơ không viết)

            Để có niềm tin này, cùng bao niềm tin khác, với anh, đâu mấy dễ dàng. Có trăn trở. Và, có xung đột. Vì trong vốn liếng tinh thần của anh nào chỉ có một khối nguyên sơ thuần khiết:

                                    Lớn lên…

                                    Tôi chới với giữa dòng ngữ ngôn hoang đãng

                                                                        (Đứa con của đất)

            May thay, mảnh đất nuôi dưỡng hồn anh chủ yếu là lành mạnh. “Lúc nhỏ tôi tự học ở trường làng - Anh tâm sự - lớn lên đi học ở trường tỉnh. Tôi học giỏi, đỗ thủ khoa. Để trả công ơn của gia đình nghèo chắt chiu từng đồng nuôi tôi ăn học, ơn các thầy hết lòng dạy dỗ tôi. Không bao giờ tôi quên thầy giáo Phạm Đăng Phụng dạy tôi ở cấp II. Chính thầy đã dắt tôi vào con đường văn thơ, con đường khoa học…”. Trong thơ anh, qua ý thơ và qua cả lời thơ, tôi biết anh chịu ảnh hưởng khá sâu đậm của tác giả Điêu tàn.

                                    Để nuôi ta, ta rút tinh chất từ cha ông

                                    Thì phải cất cho đời sau dòng nhựa

                                                                        (Trường ca Quê hương)

            Anh trân trọng ghi chú: “Ý thơ Chế Lan Viên”. Tôi không nói, Inrasara – Phú Trạm đã sáng tạo ra một thứ thi luận hoàn toàn mới mẻ. Ý nguyện khai phá con đường riêng anh gửi gắm nơi người con có lẽ chỉ mới thực thi phần chính trong con người thi sĩ của anh. Nhưng cái quý là ở chỗ, anh biết lọc lựa, nhất là biết thâu nhận để biến cái hay của người thành cái hay thấm vào tim óc của chính mình. Được như vậy là nhờ sự gắng gỏi của bản thân. Được vậy còn là nhờ ánh sáng tinh khôi của thời đại mới. Chắc anh và đông đảo bạn đọc cũng đều nghĩ như thế.

 

                                                                                                                                  Đà Lạt, 27/7/1998