Thơ cho thiếu nhi của Ninh Đức Hậu

Chừng mươi năm lại đây, sách văn chương in ra nhiều, trong khi sách văn chương dành cho trẻ thơ vẫn cứ thiếu, sách văn chương hay có thể làm thức ăn tinh thần bổ ích nuôi dưỡng thế hệ ngày mai của đất nước càng thiếu hơn nhiều. Sao có thể yên lòng cho được, nhất là đối với những bậc làm cha làm mẹ - những người mà làm gì nghĩ gì cũng không nguôi quên tương lai của con cháu. Nỗi băn khoăn, lo lắng thật dễ hiểu ! Vậy nên, khi được đọc những vần thơ dành cho trẻ thơ của bất cứ ai, tôi đều thành tâm quí trọng cả. Tôi tâm niệm rằng, nếu trời không phú cho mình năng lực sáng tạo thì hãy gắng chắt chiu, khích lệ người khác sáng tạo, âu cũng là một cách góp một phần công sức vào việc thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ thẩm mỹ của các cháu - công việc mà ai cũng cảm thấy là cần làm và làm bao nhiêu cũng không thể xem là đủ.

Tập thơ viết cho thiếu nhi của Ninh Đức Hậu được tôi đọc trên tinh thần như vậy. Có hai ấn tượng với tác giả luôn gợi lên trong tâm trí tôi, một qua thi ca, một trong đời thường. Trên tạp chí Hoa Lư số 18  (9/1999) ở chuyên trang “Dành cho các em”, có đăng bài “Viết chữ” của anh. Nhiều người đi trước khai thác ở khía cạnh nhận thức của hoạt động, Ninh Đức Hậu tìm tiếng nói riêng qua cách tiếp cận khác ở phương diện đạo lý : Bắt đầu từ chữ “Mẹ” / Bắt đầu bằng chữ  “Cha” / Chữ “Con” xen vào giữa / Xung quanh viết chữ “Nhà”. Người ta có thể khen logic hình tượng của bài thơ, tôi thì tôi thích cái logic thấm nhuần trong quan hệ tinh thần, quan hệ tình cảm. Một thời, có phải vậy không, ta quá chú trọng tới việc giáo dục cho các cháu những tình cảm lớn lao dễ biến thành chung chung trừu tượng, mà quên mất rằng, một khi đứa trẻ không biết thương yêu cha mẹ, ông bà, anh em ruột thịt gần gũi của mình thì khó nói tới tình yêu thương đồng bào, đồng loại.

Thế là từ đó tôi để ý tới thơ của Ninh Đức Hậu. Đến khi anh vào Đà Lạt tham dự Trại viết do Nhà sáng tác văn học nghệ thuật Bộ Văn hóa dành cho Hội Văn học Nghệ thuật Ninh Bình, tôi mới có dịp gặp gỡ, trò chuyện với anh. Tại đây, anh có dịp sửa chữa những bài đã viết và sáng tác thêm một số bài mới, trong đó có một nhận xét thi ca có thể xem là thú vị và mới lạ về Đà Lạt : “Trộn mưa trong nắng”. Ai ở Đà Lạt vào mùa mưa đều dễ thấy hiện tượng vừa mưa vừa nắng ấy. “Bất chợt mưa, bất chợt nắng vàng / Hoa trên trời, hoa dưới đất xốn xang” - Lâm Thị Mỹ Dạ viết vậy. Câu thơ ngân nga trong nỗi xao động lớn. Riêng bài thơ của Ninh Đức Hậu lại hay theo kiểu tư duy khác mang đậm vẻ hồn nhiên của trẻ thơ :

Chợt mưa buông xuống ồn ào

Nắng vàng chẳng kịp trốn vào vầng mây

Xôn xao khắp cả rừng cây

Trộn mưa trong nắng ... trời say rượu cần

Tôi luôn nghĩ làm thơ hay cho thiếu nhi quả không dễ. Cái khó nhất là người viết phải nhập được vào thế giới trẻ  thơ bằng lối cảm lối nghĩ của trẻ thơ mà ý tưởng không được phép tầm thường nghĩa là thật sự sâu xa và mới mẻ. Ở mức độ nào đấy, một số bài thơ của Ninh Đức Hậu đã đi gần tới yêu cầu vừa nêu. Chẳng hạn bài “Láu táu”. Như thường gặp trong thơ viết cho thiếu nhi, nhân vật chính của bài thơ mang chất tự sự này là những con vật thân thuộc. Miu và Cún rủ nhau cùng đi bắt chuột. Thấy Miu “Ngồi rình im một góc”, chả nói năng gì, “Cún kêu : - Ê, nhóc nhóc / Hoạt động đi xem nào”. Cún ưa lăng xăng hoàn toàn thiếu kinh nghiệm săn mồi. Chợt nghe tiếng loạt xoạt và tiếng kêu “chít...chít...” nơi góc nhà :

Cún con vội cuống quít

Co giò phốc tới ngay

...

Lại còn giơ hai tay

Khều khào ra phía trước

Thế là điều gì phải đến đã đến :

Ai dè nhảy hụt bước

Trượt chân ngã sóng soài

Bài học được rút ra một cách tự nhiên cho nên thấm thía : “Láu táu chẳng ích gì”. Tôi cứ nghĩ trẻ thơ mãi mãi vẫn cứ là trẻ thơ, vậy nên còn cần, rất cần những bài học tương tự.

Ninh Đức Hậu có bài thơ “Kiến”, không đi vào những hiện tượng tiêu cực mà đưa ra một tấm gương sáng :

Đoàn quân kiến bé tí ti

Xếp hàng đều bước cùng đi kiếm mồi

Lúc vội vã, lúc thảnh thơi

Gặp nhau “chạm trán” gửi lời thương yêu

Thuở nhỏ, không ít lần, tôi im lặng chăm chú dõi theo đoàn kiến ngược xuôi kiếm mồi. Tôi hoàn toàn có thể xác nhận sự quan sát tinh tế của tác giả. Thế mà, tôi vẫn bị bất ngờ bởi câu kết của bài thơ. Các cháu nhỏ có lẽ cũng sẽ bị bất ngờ như tôi, để rồi suốt đời mình cái “lời yêu thương” của loài kiến vô danh, mong manh thân phận kia nhắc nhở ta hoài...

Tôi mong Ninh Đức Hậu cùng các cây bút viết cho thiếu nhi khác sáng tạo được thật nhiều những bài thơ hay như thế. Được vậy, chắc chắn nỗi lo ngại của chúng ta về sự thiếu hụt các tác phẩm văn chương bổ ích cho con trẻ sẽ dần dần được khỏa lấp. Với ý nghĩa ấy, tôi xin trân trọng giới thiệu tập thơ cùng bạn đọc, nhất là các bạn đọc nhỏ tuổi.

                                                                                                                      Đà Lạt, 12/1999