Những bài thơ tình Nam Bộ tôi yêu

Sự mạnh dạn của tôi có được là nhờ công cuộc đổi mới văn chương. Một thời chưa xa đâu, người đời nhìn thơ tình còn khe khắt lắm. “Gạt phăng hết tấm tình riêng nhỏ hẹp / Để tay ghì xiết chặt khối đời to” . Mọi thứ đều có nguyên do. Hiểu ra để mà thể tất, nếu được.  Khi ấy, ta không trách, nhưng nếu đến giờ, ai còn cho chuyện tình yêu đôi lứa là nhỏ hẹp, là riêng tây thì ta không thể không trách. Nên tôi, cùng các bạn, hãy mở rộng lòng đón nhận những áng thơ tình hay của người xưa nhất là của người nay, người cùng thời với chúng ta. Là đàn ông, tôi lại ưa đọc những bài thơ tình do đàn bà viết ra. Cũng chỉ là bởi quan niệm riêng. Họ khác mình. Tôi thích đi tìm cái khác mình. Để bù đắp. Nhưng trước hết là để sẻ chia...

            Tôi nhớ tới những ngày rong ruổi cùng nhà thơ Phạm Quốc Ca ở Vĩnh Long. Chúng tôi ngược xuôi dòng sông Tiền. Chứng kiến cây cầu thế kỷ Mỹ Thuận trong giai đoạn hoàn tất. Thưởng thức trái cây đậm đà hương vị ở miệt vườn. Biết bao ấn tượng! Đến giờ vẫn còn tươi rói. Đáng nhớ hơn cả là được thêm một lần chứng nhận ảnh hưởng xã hội rộng rãi của thi ca. Qua thơ ai? Qua thơ tình của Song Hảo. Gần như ở đâu người địa phương cũng nghe biết đến tên chị. Nhiều bài thơ được phổ nhạc của chị gần như đã trở thành tài sản tinh thần của Vĩnh Long. Họ hãnh diện. Chúng tôi cũng hãnh diện. Lý do khác nhau nhưng đều được khởi phát từ thi ca cả. Một cán bộ đoàn, trẻ trung, ưa đùa nghịch, hát những câu thơ được phổ nhạc của Song Hảo Cao cao bên cửa sổ... rồi bàn luận: "Chỉ có nhà thơ các anh, các chị mới có quyền bắt cả thành phố im lặng để cho đôi trai gái tập trung tâm trí hôn nhau!” Tôi lắng nghe, ghi nhận và... hãnh diện. Giờ, xin tiếp tục sự hãnh diện ấy bằng cách dẫn ra một bài thơ khác của Song Hảo, ngắn thôi, năm khổ, hai mươi dòng, mỗi dòng đều đặn năm chữ, có tựa đề là Tâm hồn. Phải nói kết cấu của bài thơ đầy ý tứ mà chặt chẽ. Người đọc lập tức để mắt tới hai câu, được nhắc đi nhắc lại tới ba lần trong một bài thơ ngắn, như được đúc lại đến không thể ngắn hơn được nữa:

                                    Bao giờ anh đau khổ

                                    Hãy tìm về với em

Người đàn bà ở thế bị động mà không hề gợi lên một chút gì tội nghiệp đáng thương. Hơn thế, lại ngập tràn một tâm hồn cao thượng, bao dung. Nhà thơ khéo thuyết phục ta bằng lý lẽ: “Đâu chỉ có mùa xuân/ Mới vàng hoa rực rỡ/ Đâu chỉ riêng mặt trời/ Xua tan đi giông tố”. Sự dâng hiến bằng tình yêu đằm thắm, dịu êm mang sức thuyết phục cao hơn: “Vườn nhà em đầy hoa/ hương thơm và trái ngọt/ Mái nhà em dịu mát/ đằm thắm và bao dung”. Đoạn kết là một tuyên ngôn về một tình yêu cao cả, có thể làm dịu bất cứ nỗi bất hạnh nào trên đời:

                                    Mặt đất còn gai chông

                                    Bầu trời còn bão tố

                                    Bao giờ anh đau khổ

                                    Hãy tìm về với em         

Sức mạnh gần như vô hạn của tình yêu truyền cho ta một niềm tin lớn - Với niềm tin này, ta có thể vượt qua mọi ngáng trở, mọi thách thức để vươn tới một hạnh phúc đích thực, chan hòa với cộng đồng, trong ý nghĩa đẹp nhất của tình yêu thương.

            Xin được chuyển sang thơ tình của một nhà thơ nữ khác, khổ đau không kém, da diết không kém thơ Song Hảo nhưng có lẽ đời hơn và do vậy mà dễ đốt lòng người hơn. Tôi muốn nói tới thơ Đinh Thị Thu Vân. Không phải chị không có những vần thơ tình ngọt ngào, say cuốn. Nhiều cô gái đang yêu có thể mượn những câu thơ này của chị để tỏ tình:

                                    Anh nhớ về

                                    Đường chẳng còn xa

                                    Em không phải hát  lý qua cầu để bắc qua năm tháng

                                    Đất cù lao ngọt ngào mùa trái chín

                                    Như con tàu ra khơi, đêm bát ngát trăng đầy.

Lời mời gọi, lời nhắn gửi nhớ về quê em thật dễ thương. Tưởng chỉ có hoa thơm, trái ngọt, ở nơi ấy! Tưởng chỉ yêu nhau là đủ biến trần thế thành thiên đường! Không, tuyệt nhiên không phải thế. Tình yêu đã hẳn là mật ngọt; tình yêu đồng thời còn là trái đắng. May thay, hai phía trái ngược của tình yêu thăng hoa trong thơ chị, làm nên một Thu Vân cuồng nhiệt, si mê dâng hiến hết mình cho người yêu, để chỉ nhận về mình duy nhất một thứ: nỗi cô đơn. Mà những người đàn bà trong thơ chị vẫn không thôi dâng hiến đến cạn kiệt, thành nhỏ nhoi, đơn côi:

                                    Em là tiếng thở dài những lần anh lạc bước

                                    Là nhịp tim đau nhói buổi anh buồn

                        Rồi: 

                       Em sẽ giấu mình trong góc tối cô đơn

                                    Kiêu hãnh sống vì anh quên khát vọng

                                                                        (Sau cánh cửa)

Sẽ có những người đàn bà không thích những câu thơ này. Yêu gì mà mất hẳn mình đi, biến thành cái bóng mờ của người khác. Tôi sẽ không trách họ. Tuy nhiên, nếu có một người đàn ông nào không lắng nghe, không đồng cảm với tiếng nói yêu thương cao cả ấy, tôi sẽ trách. Tình yêu đẹp là gì? Có rất nhiều quan niệm. Tôi thấm thía quan niệm cho rằng cần phải sống hết mình cho tình yêu, và còn hơn thế, cần phải biết hy sinh hết thảy cho người mình yêu. Chữ biết ở đây rất hay, nghĩa là cũng phải tỉnh táo, cân phân. Đấy là trên phương diện lý thuyết. Thực tế, giữ được thăng bằng trong tâm thế yêu đương là khó, thậm chí là không thể. Vậy nên tôi có thể chấp nhận được ý thơ sau của Thu Vân:

                                    Không vóc dáng không sắc màu, trong góc tối

                                    Em sẽ tự biến mình thành cát bụi ... nếu anh vui.

Như cảm thấy chưa đủ, chị nhấn mạnh, và bổ sung thêm:

                                    Mơ ước đến tận cùng, anh ơi, cho dẫu thành cát bụi

                                    Tan tác cuộc đời sau cánh cửa vẫn còn mơ...

                                                                            (Sau cánh cửa)

Thơ tình Đinh Thị Thu Vân là thế! Chị ưa đẩy đến tận cùng, không chấp nhận thái độ cầm chừng, hoặc sự tính toán thiệt hơn trong tình yêu. Những trái tim kiểu ấy dễ tan nát trước mất mát. Tôi muốn nhắc tới bài thơ Nhật ký dã tràng của chị. Ít người diễn tả nỗi đau trong khát khao yêu thương xúc động được như thế:

                                    Thì hãy cứ tự đọa đầy đi, anh nhé, dã tràng

                                   muôn hạt nhớ cứ vo tròn, để nhận về tan nát

                       em một kiếp cũng vì anh thôi cũng đành xe cát

                        hạt xót hạt thương mong đừng vỡ dưới chân người.

 Những vần thơ như nhỏ máu. Không sống thật không thể viết nổi. Và cách viết cũng thật đáng nói: cứ như tràn ra mà không qua khỏi giới hạn cần phải có. Tôi nghĩ những vần thơ tình này sẽ sống trong tâm trí người yêu thơ, bởi dẫu đau xót đến đâu thơ chị vẫn không rơi vào tuyệt vọng:

                                    Chỉ xin đừng tàn lụi chút niềm tin

                                    dẫu mong manh vụn vỡ chẳng nguyên lành

                                    xin hãy có một ngày nhen nhúm lại

                                                            (Rồi sẽ có một ngày ta ngoái lại)

Đọc thơ Đinh Thị Thu Vân tôi lại nhớ tới câu nói nổi tiếng của văn hào Marquez, đại ý: Diễn tả cô đơn chính là diễn tả mặt trái của tình yêu thương. Vâng, nói tới trái tim héo, nụ cười héo, như nói tới bàn tay héo chỉ để mong cầm lên cho ấm mãi. Cùng chung ý nguyện với chị là tâm tình của một nhà thơ nữ quen thuộc khác, khả ái không kém, quyến rũ không kém, đó là Nguyễn Lập Em. Hãy dừng lại ở bài Xin đừng ai đơn chiếc của chị. Bài thơ mở đầu với vẻ thản nhiên tưởng như không ấy:

                                    Hết tháng hai rồi

                                    anh ơi, mùa xuân còn đấy

                                    mây vẫn bay

                                    chim họa mi sớm mai nào cũng hót

                                    hoa trong vườn vẫn cứ nở quanh năm

Đọc kỹ, ẩn sau vẻ bình thản ấy là tâm trạng ngóng trông, đón đợi, không thể bảo là không gấp gáp, nóng lòng. Xuân còn đấy nhưng tháng hai đã đến rồi; Mây vẫn bay mà em vẫn ngóng, vẫn chờ nghe chim hót, thấy hoa nở càng thêm buồn thêm tiếc nuối. Tất cả gợi nên sự trôi chảy của thời gian cùng sự tàn phai của hương sắc, của tuổi trẻ. Khổ thơ sau đến như một tất yếu, chẳng làm người đọc ngỡ ngàng:

                                    Mùa xuân còn sao mãi ngóng xa xăm

                                    Sao mãi nhớ, mãi mong...

Hai câu như bước đệm làm nảy ra câu thơ thắt lòng này:

                                    Chưa kịp yêu nói chi lời ly biệt

Cuộc đời có những tình cảnh oái ăm thế đấy! Có điều, mọi vẻ đẹp mong manh lại thường ẩn chứa trong nó sự sống, sức sống diệu kỳ. Phải tinh tường lắm mới nhận ra! Phải khéo léo lắm mới nắm bắt được! Thần tình nhất có lẽ là hai câu thơ sau:

                                    Lời tự tình muôn thuở cứ non tơ

                                    Và hãy khóc cùng trái tim nóng bỏng

Đúng và thật! Đúng và thật đến nao lòng. Lời xác nhận ở câu đầu và lời chấp nhận ở câu sau. Cuộc đời là thế chăng? Tình yêu là thế chăng? Hiểu, hiểu đến tận cùng mà không được phép mất lòng tin:

                                    Dù đau khổ cũng xin đừng thiếu vắng

                                    Xin đừng ai đơn chiếc ở trong đời

            Những lời trần tình giản dị mà không giản đơn. Chúng nâng đỡ ta, tiếp cho ta nghị lực. Để có thể sống và yêu trung thực với lòng ta. Và như lòng ta khao khát. Xin đừng ai đơn chiếc của Nguyễn Lập Em là một bài thơ hay ở sức lan tỏa của ý tưởng. Có phần không giống với thơ tình của Ngọc Phượng thường hay ở sức khơi gợi của tưởng tượng.

            Thơ Ngọc Phượng trong vườn hoa thi ca đồng bằng như đứng riêng một cõi. Đó là lý do khiến người này thì ưa thích, còn người kia thì e dè. Thơ có nhiều vẻ đẹp khác nhau. Như chính cuộc đời ấy. “Ở đất nầy đâu chỉ có hoa/ Cho dẫu thế cũng bao nhiêu là sắc” (thơ Lê Chí). Cần trân trọng mọi hướng tìm tòi. Nhất là không nên biệt phái. Và cần học cách để hiểu nhau, để cảm thông, rồi đến với nhau. Chẳng hạn, tôi thật sự phải học để có thể thích bài Uống rượu của Ngọc Phượng.

                                    Uống với em đừng uống với ai

                                    Em sẽ lạc giữa tầng hư ảo ấy

                                    Mất dấu nhau rồi biết tìm đâu thấy?

Nhiều người từng viết về rượu, về uống rượu. Đi vào đề tài quá quen, Ngọc Phượng vẫn tìm được tiếng nói riêng. ở đoạn đầu cái riêng có nhưng chưa thật rõ. Càng đọc, càng nhiều đường đột, bất ngờ:

                                    Uống cho buồn chạm mặt với chân mây

                                    Cho chát đắng làm long lanh ánh mắt

Cái lạ đã hiển hiện. Đi cùng với cái lạ là sự khó hiểu. Càng lạ càng khó hiểu. Nhưng nó kích thích sự tìm tòi; và rồi nó tạo nên hứng thú, tạo nên ma lực:

                                    Không có đường thẳng

                                    Không có đường cong

                                    Chỉ đường vòng khép kín

Lạ nhất là câu kết, đứng riêng một khổ:

                                    Hai hòn bi lăn hai phía cuộc đời

Đó là những câu thơ không rành rẽ, rành mạch về mặt nghĩa, nhưng xem ra rất hợp lý - cái lý của thi ca, của nghệ thuật. Người đọc buộc phải suy ngẫm. Có thể không hiểu hết. Đi đến tận cùng của thơ hay sao được! Có điều, không thể không thừa nhận rằng đây là những câu thơ có sức gợi. Không dễ hiểu hết. Cũng không phải không hiểu nổi. Đó là dấu hiệu của thứ đích thực. Đó cũng là lý do khiến nhiều người tìm đến những vần thơ sau của Ngọc Phượng:

                                    Tối nay say

                                    Em muốn nói trăm điều

                                    Sáng mai tỉnh

                                    Em giấu kín trăm điều muốn nói

Khi say rượu, có phải vậy không, ta dễ sống thật với bản ngã của mình nhất. Cái hay đi cùng với cái dở của rượu là ở chỗ đó chăng? Tưởng chừng như đưa tay ra là có thể hái được những vần thơ hay kiểu ấy. Không hẳn đâu! Thêm một lần tôi quý thơ Ngọc Phượng. Thêm một lần tôi quý vẻ đa dạng trong thơ miền Tây Nam Bộ của chúng ta.

                                                  

                                            Nhà Sáng tác Nha trang, Tháng 9 năm 2003