Người lính "Ra đi từ thành phố"

            Sau sự toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ 1975, dân tộc ta buộc lòng đi vào một cuộc kháng chiến mới chống kẻ thù ở biên giới Tây - Nam và tình nguyện đổ xương máu cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Diện mạo tinh thần của người lính trong thi ca ở mỗi cuộc chiến tranh có phần khác nhau. Cuộc chiến đấu này cũng vậy. Đọc Ra đi từ  thành phố của Phạm Sỹ Sáu, ta dễ nhận ra những nét đặc thù này.

            Tập thơ ngoài bản trường ca mà tác giả lấy tên đặt cho cả tập còn có 5 bài thơ khác nữa. Tuy nhiên, có thể xem các bài thơ ấy là sự bổ sung, sự tiếp nối bản trường ca vốn mang nhiều tâm huyết của anh. Không lạ nếu biết kết thúc bài thơ liên hoàn “Mùa mưa đời lính đi qua” lại là những câu:

            Năm mùa mưa đi qua như năm vết son

            Khắc vào lòng chúng tôi những người lính ra đi từ thành phố

            Phạm Sỹ Sáu nhập ngũ 1977 và xuất ngũ 1988. Đời lính hơn 10 năm của anh nằm trọn trong cuộc chiến đấu dai dẳng vì sự sống còn của đất nước mình và dân tộc bạn. Nhìn lại, đúng hơn là sống lại, bao kỷ niệm gắn bó với những con người, những địa danh nơi biên giới miền Đông và trên đất nước Angco, lòng người lính - nhà thơ không một phút nguôi ngoai. Có gì đó da diết, thẳm sâu thôi thúc anh cầm bút. Anh viết để trả món nợ tinh thần còn kia với đồng đội:

                        Mai mày về tao xin gửi bài thơ

            Song chủ yếu viết với anh là một dịp để suy ngẫm về quá khứ mà vững bước thêm trong hiện tại và tương lai:

                        Một thời nắng gió sau lưng

                        mang theo để xét soi từng bước đi

            Cuộc chiến đấu anh và đồng đội anh vừa trải qua có phần không giống với các trận mạc trước đây. Kẻ thù giờ là “tên giặc áo đen” man rợ không kém bất cứ kẻ thù tàn bạo nào trong lịch sử, nhưng sự hài hước thì ít kẻ hung bạo nào trên đời này có thể sánh nổi:

            Bọn xâm lấn đi chân không, quần cộc

            Ta nghĩ tới vẻ man dại của giống người chưa được khai hóa, nhất là về mưu mô và phương tiện giết người : “Ở đây cán cuốc vẫn bình thản bổ xuống đầu”. Như một cái máy, chúng hủy hoại đồng loại mình, hơn thế đồng bào mình không chút nương tay, không cần suy nghĩ. Đến nỗi, một đất nước vốn giàu có là thế giờ nghèo đói, xác xơ : “ Chục triệu gốc cây ngọt ngào mà hai năm ròng thèm một miếng đường thốt nốt”. Cái đáng sợ nhất, vì vậy đáng ghê tởm nhất là sự tê liệt, đổ vỡ về tinh thần:

            Bài hát “Xơ - vai Chăn - ti” lặn đâu ?

            Và mùa hội cũng lặng thầm trong ý nghĩ.

            Nhà thơ đã kịp nhạy bén ghi lại sự kỳ diệu của cuộc hồi sinh:

            Phum làng chưa kịp trồng hoa

            hoa vẫn nở trên tay người đang múa

            hoa vẫn nở trên môi mẹ già bên bếp lửa

            đun nồi rượu đầu tiên cho chuyếnh choáng nỗi mừng

Sự hồi sinh kỳ diệu này gắn liền với chiến công và xương máu của anh bộ đội tình nguyện Việt Nam. Người dân Campuchia đã và sẽ không quên điều đó. Những giọt nước mắt ân tình khó khăn trào ra từ đôi mắt tưởng hóa vô hồn, vô cảm đã đi vào thơ Phạm Sỹ Sáu:

            Những giọt nước mắt trào ra khó nhọc

            nóng hổi bờ vai lính tình nguyện Việt Nam

            Người lính trong thơ Phạm Sỹ Sáu đi vào cuộc chiến đấu với hoàn cảnh mới:

            Có ngày không kịp nói một câu tiếng Việt

Nên:

            Vấn vương tâm hồn câu hát xa quê

Đội ngũ họ giờ đây ít nhiều khác trước. Có thêm lớp thanh niên chưa rũ hết lối sống buông thả thị thành:

            Có đứa còn mê cái rên rỉ nhạc vàng   

      ... Có thằng ngày xưa quen thói ăn chơi sống vội

Tuy tấm lòng trung trinh với đất nước của họ chỉ có một. Và cũng chỉ có một con đường xác định ở phía trước:

            Đường chúng tôi đi không lựa chọn

            Cũng như nhiều cuộc kháng chiến trước đây, rừng là môi trường hoạt động chủ yếu của họ. Họ phục kích trong rừng, hành quân xuyên rừng:

            Rừng với rừng

            Những cánh rừng Tây Ninh thân thiết

            Chúng tôi đi mải miết

                                    vẫn rừng

Đoàn quân “mải miết” đi trong rừng ... Vậy là có gì đó khác trước rồi ! Đặc biệt, tâm sự người lính trong điều kiện mới được ngòi bút Phạm Sỹ Sáu khai thác có phần đa chiều đa thanh hơn. Nhà thơ không ngần ngại khi viết:

            Nỗi nhớ thương cồn lên chật lòng trai

Rồi nỗi buồn, dẫu chỉ là thoáng qua, cũng được nói to lên không còn dè dặt:

            Nhớ thương cùng nỗi lo xa

            đọng thành nét gợn chút buồn trong mắt

Ngay nỗi day dứt về sự sống và cái chết của đồng đội dường như là vùng cấm địa trong thi ca một thời vẫn được nhà thơ thẳng thắng giãi bày:

            Ai người đi không trở lại ?

            Suốt những ngày dài chiến chinh

            Thơ Phạm Sỹ Sáu chân tình là vậy! Có lẽ vì thế mà thơ anh dễ tìm thấy con đường thẳng đến trái tim bạn đọc. Hãy đọc những dòng anh viết về ước mong của những người lính trẻ, bình dị mà sâu lắng:

            Mấy tháng ròng giọt dầu không biết tới

            Nên rất trẻ thơ muốn trăng sáng bốn tuần

Cả cái ước ao này trên chốt:

            Một cái khăn lau thay tắm giặt cả tuần          

            ... mong hết hạn chốt về phía sau trầm mình dưới suối

            Không sống thật, không dễ gì viết nổi những câu thơ như vậy. Anh đặc biệt có ý thức về tình yêu của những người lính trẻ. Thêm vào vẻ chân chất là sự tinh tế vốn là đặc điểm dễ thấy của mọi tình yêu đích thực trên đời. Gian khổ ác liệt của chiến trường làm sao buộc các cô gái đánh mất vẻ tình tứ  đắm say:

            Đất bám đầy thân mà liếc mắt vẫn tình

            Cho lính trẻ bước đi đầu còn ngoảnh lại

Trái tim yêu thương của người lính trẻ đặc biệt phấp phỏng khi cơn mưa đầu mùa ập tới:

            Mưa ụp xuống, mưa về, mùa tới

            Trái tim nào bâng khuậng những mối tình chờ đợi

Theo nhà thơ, đó là sự khác biệt giữa “tráng sỹ cũ” và “tráng sỹ mới” thời nay:

            Chung rượu chừ tráng sỹ hề không say

            Lòng say con mắt ai

            Thế là Phạm Sỹ Sáu đã thật sự tìm lại nguồn mạch của thơ thời chống Mỹ. Không ngạc nhiên nếu ta bắt gặp những vần thơ quen thuộc từ tâm tưởng đến câu chữ và hình ảnh:

            Nằm bên cỏ mịn ta hôn

            đất dưới ngực cũng bồn chồn điều chi

và cả cái vẻ xốn xang này nữa:

            Chúng tôi đi lòng chợt bâng khuâng

            hoa bằng lăng tím chiều nào rơi bên suối

            Nhưng cái mới mẻ của cảm nghĩ đi liền với vẻ mới lạ của ngôn từ vẫn là phần chính trong thơ Phạm Sỹ Sáu. Tôi thật sự yêu cái tinh nhạy này trong anh:

            Nơi súng nổ vương một mùi lá dập

Súng nổ không để lại mùi thuốc nổ hay chính sự sống mỏng manh, cái sự sống mà vì nó ta cầm súng, đã cuốn hút người lính - nhà thơ ? Ý thơ sau cũng chưa một lần bắt gặp trong thơ viết về chiến trận:

            Giữa rừng rậm mà thấy chỗ nào cũng trống

Ấy là lúc người chiến sĩ phục kích chờ lính Pôn Pốt tràn sang.

            Chúng tôi góp phần mình xé toạc bóng đêm

Ấy là lúc người chiến sĩ xung trận. Tôi cũng yêu những cặp so sánh thú vị, đường đột hơn một lần bắt gặp trong thơ anh:

            Sông Dịch nào rộng bằng Mê-kông

            Sóng Mê-kông nào bằng sóng ở trong lòng

            Ta có quyền tin yêu vào sự phong phú đến vô bờ của tấm lòng người cầm súng hôm nay. Chính sự đa dạng của lối cảm, cách nghĩ có điều kiện thăng hoa thành những vần thơ độc đáo, không lặp lại người cũng không lặp lại mình. Đó là bí quyết thành công cũng là thách thức nghề nghiệp của người cầm bút. Phạm Sỹ Sáu quả đã bước đầu vạch riêng một lối đi trong thơ mình. Ấy là bởi anh biết khai thác vốn ấn tượng đời lính trong anh. Đọc thơ Phạm Sỹ Sáu ta thường bắt gặp nụ cười. Dễ hiểu là anh cũng như đồng đội anh luôn tin vào mục đích của cuộc chiến đấu mà có người có lúc từng đặt câu hỏi hoài nghi.

            Đất nước mình: hòa bình và súng nổ

            Ở mặt trận nào cũng cần có lòng tin

            Niềm tin tự nhiên như tỏa ra từ bên trong tâm hồn người cầm súng. Nhưng còn bởi lẽ khác : Hình như anh ưa trầm ngâm, suy tư. Nụ cười thay anh nói bao điều có ý nghĩa về con người và cuộc sống. Nụ cười thay lời chúc tụng đầu năm:

            Những gương mặt bụi bẩn

            Nhìn nhau cười thay lời chúc đầu năm

Nụ cười thay lời giao duyên:

            Gặp cô gái nào mầy thấy dễ thương 

            Hãy chào dùm tao nụ cười mong nhớ

Cũng với nụ cười rộng mở, người lính đến chia vui với hạnh phúc lứa đôi:

            Sau mùa ra đồng là mùa đám cưới

            Chúng tôi mang nụ cười đến dự với hai bên

            Cùng với nụ cười, màu xanh của lá, nhất là màu xanh của cỏ thường được biểu hiện trong thơ Phạm Sỹ Sáu. Đây là thảm cỏ xanh mềm của tình yêu say đắm nơi chàng trai:

            Cỏ xanh ướt ngỡ môi êm

            Anh nằm với cỏ mượt êm nhớ gì?

Có liên tưởng ấy là bởi nó được nối liền với ước nguyện thành thật của cô gái lúc “Tiễn đưa”:

            Em xin được làm ngọn cỏ

            Bên anh xanh mát một vùng

Với người lính trong thơ anh, ngọn cỏ không tách rời quê hương, đất nước nên giữ gìn nó hóa thành mục đích cụ thể thiêng liêng:

            Ngọn cỏ quê hương không thể bị xéo giày

Màu xanh da diết của ngọn cỏ luôn ám ảnh trong tâm tưởng những người từng sống trong cảnh “gió lốc khô cuồn cuộn thổi ban ngày”. Vâng, ám ảnh tới mức đôi lúc họ sống trong huyễn tưởng:

            Phía rừng tre văng vẳng tiếng lào xào

            tưởng nước réo hóa cành khô bén lửa

            Tôi muốn nói chất sống ấy, chính chất sống ấy đã góp phần tạo nên nét riêng trong thơ Phạm Sỹ Sáu. Dẫu thế nào, nét riêng ấy cũng cần được bồi đắp thêm, bởi tập thơ của anh vẫn chưa hết những tỳ vết.

            Phạm Sỹ Sáu dành vị trí danh dự cho bản trường ca Ra đi từ thành phố. Trường ca là thể tài được nhiều nhà thơ sử dụng khi cần thể hiện cảm hứng công dân trong một dung lượng lớn mà một vài bài thơ không chứa nổi. Cho đến giờ, ở ta, ít có những trường ca thuần khiết. Đó là lý do trường ca trên thực thế được coi là trường thi (thơ dài). Nói thế để thấy rõ vai trò đặc biệt của chất trữ tình trong cái gọi là trường ca ở ta. Trong trường ca có kể, có tả song câu chuyện và hình ảnh phải thấm đậm cảm xúc, suy tư. Tiếc là chất trữ  tình trong nhiều đoạn của tập thơ chưa thật tương xứng. Đôi đoạn còn sa vào kể lể dài dòng. Bản trường ca chưa gây được ấn tượng thật mạnh, thật sâu là vì thế. Giá có nhiều đoạn như đoạn sau thì sự thể có lẽ sẽ khác:

            Nhận đồng hương chút cho vui

            Nghe em nói, thấy em cười, thế thôi

            Trao kỷ vật dưới chân đồi

            Nụ hoa tím nói thay lời... chia tay

Mỗi câu, mỗi từ đều nồng ấm cảm nghĩ. Chính cái chất trữ tình này đã làm say cuốn người đọc trường ca. Cũng cần đòi hỏi cao hơn sự tinh luyện của câu chữ. Chớ nên để tồn tại những câu thơ thiếu sức ngân vang như câu này:

            Chưa biết hoa gì có làn hương thoảng qua từng chặp

            hương thoảng qua mà xốn xang trong lòng

Cũng chớ nên để ngôn từ thành hàng rào ngăn chắn cảm xúc của người đọc như từ “tao ngộ” trong trường hợp sau:

            lần đầu tiên chúng tôi bị động

            trước kẻ địch lẩn nhanh như sóc

            chút tao ngộ cho chúng tôi bài học

            Những hạt sạn như thế không nhiều, song không phải là không đáng nói, nhất là với những cây bút có nghề.

            Dẫu sao Ra đi từ thành phố cũng là một đóng góp qúy giá của Phạm Sỹ Sáu vào dòng thơ viết về chiến tranh và người lính. Tác giả đã chọn cho mình một giọng điệu riêng khá thích hợp nhằm dựng lại chân dung tinh thần của người cầm súng trong cuộc chiến mới của dân tộc mà cho đến giờ còn ít được thể hiện trong thơ.

          Những cơn mưa đi vào lòng thành lửa

         Cháy không nguôi những kỷ niệm chiến trường

            Xin cảm ơn ngọn lửa trong thơ anh đã góp phần thắp lên ngọn lửa trong lòng bạn đọc chúng ta.                                                                                                          

                                                                                                                           Đà Lạt, 21-6-1995