Một nhà kinh tế làm thơ

Trần Anh Thư, bút danh của Trần Sỹ Thứ, vốn là một nhà kinh tế học. Quê anh ở Nghệ An nhưng sống và làm việc ở Lâm Đồng. Nếu có ai hỏi tôi về một nhà địa phương học đang định hình ở vùng đất cực Nam Tây Nguyên này, tôi sẽ nghĩ hết đến anh. Các tập sách đã công bố như “Một số vấn đề dân số Lâm Đồng”, “Lâm Đồng, Đả Lạt vùng đầu tư nhiều hứa hẹn”, “Dân tộc, dân cư Lâm Đồng”... đã nhắc tôi về điều đó. Anh có điều kiện nhưng trước hết anh có tấm lòng với Đà Lạt – Lâm Đồng: Nét duyên dáng xôn xao lòng sĩ tử/ Phút bâng khuâng, lạc giữa thiên đàng (Lang thang phố núi).

Tôi không lấy làm lạ khi anh tìm đến với thơ: Thơ lắng đọng tình ai... trang sách/ Lòng suy tư đứt đoạn cung đàn (Lang thang phố núi).

Người xưa bào có ba điều để lại cho đời gồm lập đức, lập công và lập ngôn. Mỗi người, tùy cái tạng trời cho mà chọn cho mình một lối đi riêng. Có điều ở đời không nên sống phí sống hoài. Hãy làm một cái gì, dẫu chút ít thôi, để trả công cha mẹ đã sinh ra ta, trời đất đã nuôi dưỡng ta. Chắc Trần Anh Thư luôn tâm niệm thế nên trong thơ anh đã dành cho Nguyễn Công Trứ (người từng lớn tiếng nói đến “cái danh” của bậc làm trai) nhiều tình cảm đến vậy: Là sư tổ thơ, hay là bậc thánh/ Là văn nhân, hay bậc vĩ nhân/ Viếng thăm người, xoáy tung ý tưởng/ Hiện tượng đất trời, Nguyễn Công Trứ đó chăng? (Phải chăng là hiện tượng).

Trần Anh Thư không có ý chọn thơ văn để “lập danh”. Anh vốn tự biết mình. Người trí thức đích thực phải vậy. Đời người rất hữu hạn, chả ai dại gì lại đem phung phí thời gian vào những công việc chưa thật sự là sở trường của mình. Lại là khi đã ngoại ngũ tuần rồi. Vậy nên: Làm thơ đâu nghĩ chi tiền bạc/ Đâu mua, đâu hạch toán gì đâu (Không bán chữ).

Thơ thuộc lĩnh vực tinh thần đâu có thể đem tiền bạc, văn chương ra để mua bán, đỗ chác. Nhưng khi một người đã hiến thân cho thơ, coi thơ là một nghề như bao nghề khác thì lại không thể không tính đến việc ăn gì để sống sau đó mới đến việc sống như thế nào để viết. Nên hiểu “không bán” thơ ở đây chỉ là một cách ứng xử với thơ, cũng là một cách để tự bộc lộ mình. Thế nhưng, sao có thể ngăn cản ta đến với thơ khi ta thật sự có nhu cầu bày tỏ? Bởi văn chương, thi ca là đời sống của con người. Tôi là con người, không gì thuộc về con người lại xa lạ với tôi. Và quả thật thơ đã giúp Trần Anh Thư khá nhiều. Thơ giúp anh không thể vô tình trước thiên nhiên hữu tình: Gió lùa cửa Hạ Long/ Biển rì rầm thổn thức/ Sương đan tình non nước/ Hồn thơ hòa trong mây (Hạ Long).

Thơ đặc biệt giúp anh thổ lộ nghĩa tình với quê cha đất tổ. Có thể xem “về nguồn” là mạch cảm hứng luôn tha thiết chảy trong hồn thơ anh: Đất trời dệt thảm tâm linh/ Lam Giang sóng vỗ tâm tình cỏ hoa (Sương mai).

Rồi tình yêu! Liệu có ai hoàn toàn thỏa mãn trong cái khát khao vô cùng tận ấy. “Người ta có thể no đủ vất chất nhưng lại luôn đói khát tình yêu” (Lò Ngân Sủn). Cái chính là thỏa mãn tình yêu thế nào cho thật xứng đáng. Tình yêu không bao giờ đòi hỏi/ Trao cho nhau thi vị ngọt lành (Nghiệm số đó là).

Nhiều hơn cả trog thơ Trần Anh Thư là nỗi trăn trở, suy tư về nhân tình thế thái. Đúng sai, phải trái, xấu tốt với người khác có thể có lúc lẫn lộn nhưng với người tri thức chân chính phải luôn rạch ròi; chớ vì yêu ghét riêng mà bẻ quẹo chân lý. Anh có một bài mang tựa đề “Nặng tâm” mà câu kết đã thực sự khiến tôi xúc động: Địa linh nhân kiệt hồn non nước/ Xã tắc, sơn hà nặng tâm ta...

Vâng, tôi muốn nhấn mạnh đến ý thức công dân trong thơ Trần Anh Thư. Riêng ở điểm đó, thơ anh cũng đã có ích lắm rồi.