Một nhà khoa học làm thơ

Nguyễn Mộng Sinh vốn là nhà khoa học tự nhiên. Tôi muốn nhấn mạnh thế vì dường như khoa học tự nhiên có vẻ xa văn chương, nghệ thuật hơn khoa học xã hội. Chẳng đã có người từng gắng đào sâu cái hố ngăn cách giữa tư duy luận lý của nhà khoa học với với tư duy hình tượng của người nghệ sĩ là gì. Ngẫm kĩ thì không hẳn vậy. Chớ bảo các nhà khoa học tự nhiên, chẳng hạn các nhà toán học, là nghèo tưởng tượng. Tôi nhớ từ năm 1922 Lênin đã nói rất đúng rằng: “Thật sai lầm nếu nghĩ nhà thơ mới có thể tưởng tượng. Đó là một định kiến ngu xuẩn! Ngay cả trong toán học cũng cần có tưởng tượng, không có nó thì không thể tìm ra phép tính vi phân và tích phân được”. Trong giới khoa học người ta thường hay kể cho nhau nghe về một câu chuyện rất có ý nghĩa về nhà toán học Hinbe. Nhiều học trò giỏi đã được ông trực tiếp đào luyện. Một lần, có người hỏi thăm một học trò củ của ông, nhà toán học hóm hỉnh trả lời: “Anh ta đã trở thành nhà thơ rồi, bởi vì anh ta không đủ trí tưởng tượng để trở thành một nhà toán học!”

Mặc dầu là một người rất yêu thơ, Nguyễn Mộng Sinh chưa bao giờ coi thi ca là cái nghiệp của đời mình. Chỉ bởi anh còn nặng nợ với khoa học lắm. Qua đèo tức cảnh làm thơ/ Xe đi vội quá không chờ ý hay.

Trước sự, trước cảnh thoắt ẩn thoắt hiện, cái tình dâng đầy trong lòng anh và thế là “không chờ ý hay” anh cầm bút viết. Trước hết cho mình và sau là cho những người tri âm tri kỷ gẫn gũi với mình. Thơ với anh là cuốn nhật ký tâm hồn luôn được nâng niu đặt nơi có con tim “dẫu không mới lạ nói lời yêu đương... dẫu nhiều cay đắng đau thương giận hờn”. Quả là ít có thi sĩ thực thụ nào đã viết như anh từng viết: Cứ mỗi đêm về tong phòng vắng lặng/ Thổn thức lòng Ba nỗi nhớ thương nhà!

Hay: Ba muốn làm thơ tặng mẹ con/ Mưng cho sinh nở được vuông tròn.

Anh ựt xưng là Ba là anh để trải lòng mình với con mình, với vợ mình trong những ngày xa cách với mục đích thật xác định: Những dòng thơ nối nhịp cầu vạn dặm/ Để không gian co lại thêm gần.

Vậy nên, cho dầu tập thơ “Muôn mặt đời thường” do Nhà xuất bản Văn học ấn hành, cho dầu đây chỉ là tập thơ được tuyển từ hàng trăm bài thơ đã viết, cho dầu anh đã cầm bút làm thơ từ 35 năm về trước, cho dầu... cho dầu gì đi nữa thì cái đích chính của đời anh đâu phải là thi ca. Điều này đã chi phối thơ anh, từ quan niệm đến sáng tác. Trong bài “Cuộc đời trên trang sách” viết gửi một bạn văn trẻ anh thành thực thổ lộ mong ước thi ca của mình: Giờ anh chỉ còn hy vọng ước mong/ Em luôn giữ tâm hồn mình thanh thản/ ... Em hãy dùng lời thật dễ hiểu hơn/ Bởi khách sáo chỉ mang điều trống rỗng.

Giữa cuộc đời đa tạp đục trong lẫn lộn này, giữ được tâm hồn trong, thanh thản đâu có dễ! Cũng thật khó khăn khi anh muốn “dùng lời lẽ thật dễ hiểu” để diễn tả cái muôn màu muôn vẻ của thế giới kỳ diệu có tên là cuộc sống. Song đã quyết định là anh làm. Cuối cùng dù ít dù nhiều anh cũng đã tìm được cái hữu hạn trong cái vô cùng tận của tâm hồn và cuộc đời: Anh đi tìm vần thơ/ Trong thăm thẳm đáy lòng/ Vần thơ gieo rạo rực/ Giữa dòng đời mênh mông...

Vả thế là từ cái riêng tư, thơ anh đã đến được với mọi người. Có ai từng say sưa theo dõi quả bóng lăn trên sân cỏ lại không chia sẻ nhiều cảm nghĩa này của anh: Cái tỷ số đâu còn là con số/ Đã thành buồn vui của triệu người.

Có thể nói anh vươn tới cái đích của thơ rồi đấy. Không đúng vậy sao? Thơ là gì? Trong ngàn vạn câu trả lời có câu trả lời giàu sức thuyết phục này: Thơ là chuyện đồng điệu, đồng tình. Tố Hữu, một nhà thơ anh rất quý trọng và cũng có thể nói là anh chịu nhiều ảnh hưởng, từng quan niệm như thế. Do đó mà tôi yêu những vần thơ này của anh: Hãy thổi mạnh hơn trận cuồng phong/ Cho đời tĩnh lặng đổi thay dòng/ Cho tan mấy xám che trời biếc/ Để trả về đây sắc nắng trong.

Bài thơ có tựa đề là “Gió”. Ôi! Cái khao khát đổi thay anh gửi gắm qua những cơn gió của cuộc đời mới da diết làm sao! Con người ấy không muốn sống yên ổn trong sự mòn rì, héo tàn. Có gì gần gũi với “cành giao” mà đã có lần vươn dài thân cành trơ trụi trong thơ anh: Không hợm đời chung cái vẻ quan sang/ Cứ thỏa chí dọc ngang mà vươn tới.

Có thể thấy khuynh hướng ưa triết lý vốn là thói thường của các nhà khoa học. Chỉ có điều, đây là thứ triết lý trong thơ: Nó phải nhuyễn vào hình ảnh, phải thấm cảm xúc. “Không có gì lặng lẽ hơn là tiếng động bạc màu của tóc”. Đó là đề từ của bài thơ “Bạc mái đầu”. Tôi thật sự sững sờ trước câu kết của bài thơ: Màu đen đã ra đi thầm lặng/ Sang những mái đầu trẻ thơ.

Đã rõ rồi, tâm hồn anh còn trẻ trung lắm! Và sẽ không lạ, nếu thơ còn đi cùng anh cho đến chặng cuối của đời mình: Cần chi hưng phấn ở đâu/ Cuộc sống quanh ta ngày mỗi ngày mới lạ/ Anh đã bạc đầu vẫn thấy mình thơ dại quá.

Mong anh giữ mãi cái nhìn hồn nhiên đến ngơ ngác ấy trước sóng cả của cuộc đời. Bởi lẽ cũng như trong khoa học, nhạy cảm với cái mới chính là khởi đầu của mọi tìm tòi, khám phá trong thơ. Tôi tin là bạn đọc sẽ trên ý nghĩa này mà đến với thơ anh.

                                                                                                                           Đà Lạt, 1/8/95