Hương sắc của đời

Nhà thơ Hữu Chỉnh liên tục nhiều năm nay giữ trọng trách cao nhất ở Hội Văn học Nghệ thuật Đắc Lắc. Một người bạn viết văn đi nhiều biết nhiều, có lần gặp tôi trầm ngâm đưa ra nhận xét khá lý thú: “Ông biết không, lãnh đạo văn nghệ không thể không làm văn nghệ. Nhưng Chủ tịch Hội Văn nghệ cũng có dăm bảy loại. Về phương diện tư duy sáng tạo, đại để có 3 loại chính: 1. Tư duy sáng tạo vốn trơn tru hợp ngay với kiểu tư duy hành chính; 2. Tư duy sáng tạo ban đầu cũng gai ngạnh nhưng rồi bị tư duy hành chính dần dần bào mòn đi; 3. Vẫn giữ được sức sáng tạo vì biết chủ động vận dụng tư duy hành chính sao cho thích hợp nhất”. Mới đầu gặp Hữu Chỉnh, tôi cứ tưởng anh thuộc típ người lãnh đạo văn học nghệ thuật loại 1 hoặc loại 2 theo cách phân chia của bạn tôi kia. Hiểu anh qua thơ anh, tôi lại nghĩ khác. Và tôi thực tâm rất mừng là mình đã nghĩ khác, nghĩa là nghĩ đúng về anh. Hữu Chỉnh có lần đưa ra tuyên ngôn về thơ:

Góp gom nên một nhành hoa

Hương trời hương đất chắt ra hương đời

Ngót 40 năm làm thơ cho phép anh cả quyết nghĩ như vậy. Và đó có lẽ là đường hướng chung, đường hướng chính của thơ anh.

Người ta bảo thơ chủ yếu là hướng nội. Nhưng không nền sao dựng lầu thơ (Xuân Diệu)? Vả chăng, cái gọi là hướng nội hay hướng ngoại cũng chỉ là tương đối thôi! Đôi mắt thơ cũng như đôi mắt người ấy, có lúc nhắm, lại có khi mở ra. Nhắm mắt hay mở mắt, hướng nội hay hướng ngoại đều do cách giải thoát ý đồ nghệ thuật mà có. Đâu cứng nhắc, khuôn sáo cho được. Tuy nhiên, phải nhận ra cái tạng của từng người. Trái tim Hữu Chỉnh đặc biệt nhạy cảm với cái đẹp bên ngoài. Nhiều phát hiện giàu ý nghĩa trong thơ anh có được từ đây. Có cái thoảng qua như tiếng chim: Con chim nào hót vậy/ Cho trời xanh cao thêm. Lại có cái trôi nổi, bồng bềnh như mây gió: Mây trải như lụa phơi/ Gió thả về bối rối. Đó là những cái động qua nhanh theo lẽ vô thường. Riêng cái động nhẹ của sóng hồ sau đây lại có xu hướng đi theo lẽ khác –lẽ hằng thường:

Hồ gợn sóng như gương trời dát bạc

Soi thời gian mê đắm đến vô cùng

Nhà thơ như muốn tâm sự cùng ta: cuộc đời vi diệu lắm, hãy biết chắt chiu từng sát na của đời người nhằm đón nhận từng vẻ đẹp nhỏ nhoi của đời sống. Với ý thức ấy, Hữu Chỉnh đã nhận được từ đời nhiều vần thơ trần trụi mà sâu sắc. Từ Đất tổ Hùng Vương, anh bồi hồi trong một ý tưởng lớn:

Nước non trải mấy phong trần

Mà đàn voi vẫn quây quần tháng năm

Câu thơ hay bởi ý thơ mang sức bao quát đã tìm được một cách biểu hiện phù hợp. Đạt nhất là từ nước non. Không ở đâu ta có thể cảm nhận đến tận cùng ý nghĩa của từ nước non như ở vùng Phong Châu ấy. Có lẽ vì thế mà ta dường như quên đi cách viết có phần xưa cũ của nhà thơ. Tôi nói vậy, vì tôi không thật tán thành quan niệm của một ai đó khi bảo thơ cốt là hay, mới hay cũ về thi pháp chả cần đoái hoài đến làm gì. Ôi! Cuộc đời luôn biến đổi, lẽ nào tà áo thơ không thay đổi? Tôi nói vậy, còn vì không ít lần tôi đọc được sự trùng lặp phải nói là không thật dễ chịu trong thơ Hữu Chỉnh. Có khi lặp ý:  Krông Ana chảy trong tâm tư -Hương Giang về chảy trong tâm tư. Cũng có khi cách nói lặp lại:  Sông thì xa đỉnh núi thì gần - Núi thì cao mà đồi thì rộng. Đấy là chưa nói đến sự mòn sáo về cấu tứ như Nghe Quan họ trên Cao nguyên  Huế giữa Cao nguyên… (Hình như Văn Công Hùng cũng có bài Gặp Huế trên Cao nguyên).

Cũng may, sự trùng lặp chỉ là cá biệt. Nguyên do từ đâu? Có lẽ từ ý thức gắn thơ với cuộc đời luôn tươi mới của nhà thơ. Hãy nghe Hữu Chỉnh viết về mảnh đất chôn nhau cắt rốn “chiêm khê mùa thối”, “sống ngâm da, chết ngâm xương” của mình:

Đất đồng chiêm ngắn ngủi thời con gái
         Cho con ngắm dáng lưng còng của mẹ đến ngẩn ngơ

Ý thơ sống động bởi thời con gái ngắn ngủi cùng dáng lưng còng mẹ trong tâm tưởng của người con chí hiếu. Hữu Chỉnh biết cách cho cảnh và người bên ngoài chảy qua tâm tư mình, nên thơ anh không hiếm những câu nóng hổi tâm tình như thế! Chẳng hạn, dễ gì viết nổi những câu thơ như anh từng viết khi đứng trước những nén nhang đang tỏa hương trong đài liệt sĩ:

Cháy đỏ lòng những nén hương bình dị

Khói vô tư lượn đến nao lòng

Ngòi bút chân tình viết về một tình cảm chân thành –  vẻ vô tư của những tấm lòng bình dị âm ỉ cháy mà sao nao lòng đến vậy! Lại nữa, một câu thơ hay của Hữu Chỉnh về Huế đẹp và thơ:

Tiếng hò náo động âm thanh

Từ trong thăm thẳm vút thành trăng nghiêng

Ở đây có sự chuyển hóa tinh tế của cảm giác: từ âm thanh của tiếng hò vút thành hình hài của trăng nghiêng tạo nên sức âm vang, đường đột mà lại tự nhiên, đến mức khi cảm nhận được rồi, ta khó mà đi ra ngoài sự cảm nhận của người viết. Như được đà, Hữu Chỉnh “vẫy ra” một “khúc ngâm” đáng nhớ khác về Cố đô:

Mái trời nghiêng xuống Đông Ba

Gió tung cánh mở những tà áo thơ

Trong tà áo thơ, ta đâu chỉ thấy gió phóng túng của trời và mái nghiêng nghiêng của chợ. Tâm hồn của nhà thơ đã trùm phủ lên chúng! Không như thế ta sẽ không thấy được nỗi ưu tư trĩu nặng trong dòng sông hơn một lần thao thức chảy trong thơ Hữu Chỉnh:

Nước mắt trời chảy ra thành dòng sông nước trong

Nước mắt người chảy ra thành dòng sông nước đục

Anh viết về con sông Mẹ và sông Cha – Krông Ana và Krông Knô trên Cao nguyên Đắc Lắc lặn mãi vào tim anh đấy! Đọc những vần thơ ấy, ta không thể dửng dưng…

Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn, cố thi sĩ Chế Lan Viên –năm nay ta tưởng nhớ 10 năm ngày ra đi của ông – từng viết vậy. Không rõ vì sao càng đọc thơ Hữu Chỉnh, tôi càng thấy Chế Lan Viên có lý. Một lần, nhân dự Đại hội Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Ninh, Hữu Chỉnh ứng tác tặng các đồng nghiệp:

Hết bụi đỏ đến bụi đen

Nơi đâu cũng gặp lấm lem của đời

Tôi cùng bạn, bạn cùng tôi

Chắt trong bụi lấy tiếng cười trao nhau

Tiếc là tôi không được chứng kiến cái giây phút thắm tình nghề nghiệp ấy. Nếu được dự, tôi xin được chúc mừng anh theo cách riêng của một  nhà phê bình: “Này, các  anh các chị ơi, đây là một bài thơ hay, rất là… Hữu Chỉnh!”.

Tiếng cười vừa dứt, tim tôi chắc sẽ thắt lại. Ôi! Những tiếng cười chắt ra từ bụi bặm cuộc đời. Giữ mãi được tiếng cười trong trẻo, tin yêu ấy đâu có dễ dàng gì. Nhưng, tôi luôn tin vào Hữu Chỉnh, cũng như luôn tin vào ánh mắt thơ nhìn rất trẻ, như dòng sông băng qua thời gian của anh.

                                                                                                                    Đà Lạt,  9/1999