Dự cảm tốt lành về thơ Mai

Lần đầu tôi gặp Mai là vào tháng 4 năm 2004 ở Sa Pa. Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức một Hội nghị dành riêng cho Văn học Dân tộc và Miền núi. Ấn tượng đầu tiên của tôi về cô gái người Hòa Bình lại không phải là thơ. Lưu giữ trong tôi cho đến giờ là hình ảnh một phụ nữ mặc lễ phục dân tộc Mường xởi lởi đi từng bàn, mời rượu từng người:

Uống đi anh

Uống cho tay nắm tay bén lửa

Uống cho mắt nhìn nhau nên sấm chớp đổ trời

Rượu uống đâu phải vì rượu, mà để xa uống nên thương, thương thành gần, thì gần uống thành nhớ. Và tôi thương, tôi nhớ thật… cái người cố công ủ men thơ, cái người lầm lũi cất rượu thơ ấy. Chẳng phải vô tình mà Mai lại đặt tên tập thơ thứ ba của mình là Nơi cất rượu. Tôi được em tặng tập thơ có lời Tựa khá là ưu ái của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Nhưng, cho dầu có sự chỉ dẫn của nhà thơ danh tiếng, cho dầu ngay từ tập thơ đầu tay Mưa trong nhà, Mai đã nhận được Giải của Hội Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số, cho dầu nhiều, nhiều nguyên do gì gì khác nữa…thì rượu của thơ Mai khi đó vẫn chưa đủ làm tôi say. Mãi đến khi về Đà Lạt, một lần, bàn tay tôi vô tình chạm phải  - một bài thơ hay một cách khác thường của Mai, tôi mới dần dần bị chất thơ của em lay động. Vâng, tôi vừa dùng từ “khác thường” để nói về sự ám ảnh có được từ một bài thơ của Mai. “Khác thường” không hẳn với nghĩa là “dị thường”, “phi thường” một cách thông thường. Đơn giản là vì nó lạ. Cũng không phải hoàn toàn với nghĩa mới mẻ. Đơn giản là nó khác với thơ của nhiều cây bút trẻ khác cùng thế hệ với Mai mà tôi được đọc: Chiếc lá/ Đùa vui cùng gió…/ Lớn lên cùng mặt trời…/ Khi chiếc lá ngả vào lòng mẹ/ Chợt mềm/ Trong đất/ Một giấc ngủ ngon xanh biếc/ Bầu trời như cánh võng thênh thang. Tôi xem bài thơ như một chiếc lá giúp tôi nhìn ra cây, và phần nào cả đồi cây kia…

Nhưng một chiếc lá, dù là đặc sắc đến đâu, vẫn chưa phải là cây, càng chưa phải là đồi cây. Toàn bộ tập thơ thông minh “như một luận văn tốt nghiệp”, Nơi cất rượu hình như còn thiêu thiếu một cái gì đó làm cho thơ Mai nhập vào hồn thiêng của Rừng của Núi. Và tôi đã kịp nhận ra cái thiếu ấy trong tập thơ mới nhất của em - tập Mường trong (2006). Kể ra, ngay trong tập thơ trước, Mai đã hơn một lần ý thức được “Nguồn thơ” của mình khi lớn tiếng tuyên bố: Bám chặt vào quê ta mà lớn, để rồi trên “Đường đua” nghề nghiệp nghiệt ngã, Mai đã: Đặt tay lên môi mình/ Tôi hứa với lời,  rằng: Bài ca đầu tiên của đôi chân chạm vào trái đất chính là: Bầu/ Sữa/ Mẹ. Đọc lần đầu, thú thật tôi chưa thật hiểu vì lẽ gì Mai lại chủ tâm tách từng từ trong cái cụm từ quen thuộc “bầu sữa mẹ” ấy ra. Đọc kỹ, tôi mới thấu ra cái lẽ này:  từng yếu tố tách biệt lại có ý nghĩa rất riêng của nó.

Tuy, như người đời thường dạy, nói thì dễ thôi, làm mới khó kia! Toàn bộ tập thơ chưa thấm cái điều nhà thơ trẻ của chúng ta mong. Mừng thay, tập Mường trong đã phần nào lấp đầy chỗ khao khát của Mai đặt trong Nơi cất rượu. Thói quen phê bình dẫn tôi đi ngay vào bài thơ Mai chọn làm tên chung cho cả tập. Đây là cảnh xứ Mường:

 Khói cũng nhuộm nâu người như đất

Con đường mòn biết đếm bước lạ quen

Còn đây là người xứ Mường:

Người Mường trong leo núi như mặt trời

…Bám độc mộc xuôi về như con ốc con cua

Cuốn hút tôi là những phép so sánh, ẩn dụ rất riêng của xứ Mường. Kể ra, trong Nơi cất rượu, người đọc cũng đã từng mơ hồ cảm nhận những vần thơ mang hướng vị của Núi của Rừng rồi. Chẳng hạn:

Con đến phố phường bằng vị chanh non

Mang giấc mơ hương cốm ra khơi xa

Nếm ngọn mía vào thu, rượu môi sang rét

Và mỉm cười với những vệt chân chim

Đó là tâm thế của người đi. Có kẻ ra đi mà không về. Mai khác, em đã đi và trở về nằng nặng ưu tư…Và ao ước khám phá xứ Mường, người Mường cứ luôn như một nguồn sức mạnh tự bên trong thôi thúc cây bút trẻ. Chợt nhớ ý thơ kỳ diệu của nhà thơ lớn Hàn Quốc KoUn:

Sự ra đi là con đường của nhà sư

Sự trở về đích thực là con đường của Đức Phật.

 

Nhưng chỉ đích thực trở về

Khi đích thực ra đi.

Để chuẩn bị cho sự trở về đích thực trong lòng dân tộc mình, Mai đã đến nơi phố phường, nghĩa là đến với thế giới một cách đích thực. Với người làm thơ, sự ra đi bao giờ cũng có những ngả đường riêng. Mai chủ động gặp: Người đẹp/ Trong lâu đài thiên nhiên/ Từ mầu ánh sáng dân ca…/ Với những bàn chân bó/ Những bàn chân to/ Đội chum rượu/ Khát vọng loài người/ Phăm phăm bước vào mùa hoa. Tất cả là đều nương theo ý nguyện của Mai: Làm nên những bài ca lớn của riêng mình. Chắc không cần chú giải, những ai có chút ít vốn liếng thi ca cũng sẽ nghĩ tới cái nguồn hút nhuỵ của thơ Mai là ở đâu rồi. Những tên tuổi lớn lao mà thật quen thuộc như Nguyễn Du. Đấy là chiếu trên, chiếu chung. Gần gũi hơn là Y Phương, là Lò Ngân Sủn… Có điều, thôi thúc Mai ra đi chủ yếu là ở ngọn nguồn khác, thẳm sâu mà dào dạt hơn nhiều: Tôi/ Vin vào ánh trăng mà bước/ Vin vào hương thơm mà bước/ Vin vào câu Thường rang mà ước…. Trong bản in, Mai không giải thích câu Thường rang là gì? Tôi phải hỏi em, mới hiểu ra, đó là một làn điệu dân ca Mường dùng để bày tỏ những ước nguyện cao nhất của một đời người. Hóa ra là vậy, chất dân tộc thấm trong tâm trí của em đã từ lâu rồi. Để, có dịp bừng lên một cách đặc biệt đậm đà trong nhiều vần thơ của Mường trong. Khi thì thể hiện cách đi:

 Mình leo lưng tiếng chiêng

Trèo ngọn tiếng cồng mà tới

 Khi thì thể hiện nỗi tương tư mà ngàn đời nay bao giờ cũng thật khó diễn tả bằng lời:

Cánh diều vì ai mọc cánh lên mây

Con người vì ai ngậm ngải lên non

Nổi lên hơn cả là cách ngỏ lời lấp la lấp lửng trong tình yêu:

Anh mượn đôi mắt tỏ nỗi lòng mình

Mượn gió xuân làm hoa rời cuống

Mượn lá giầu quả cau làm lời

Nếu thơ trữ tình đích thực là tiếng nói trực tiếp của cái tôi thì có thể nói Mai đã tiếp cận được chính cái nơi thi ca dân tộc đang cần em tới. Mai hoàn toàn có thể tự tin mà khẳng định được rằng: Tôi là Tháng giêng/ Là cánh hoa Mai cha mẹ ủ trong lòng.

Nhiều người bảo: Cốt giữ lấy nếp cảm nếp nghĩ riêng của dân tộc, viết về cái gì chẳng thật quan trọng lắm đâu. Tôi không phản đối. Chỉ xin lưu ý, khi viết về dân tộc thì cái nếp nghĩ nếp cảm kia mới như tìm được đất sống dồi dào. Nếu còn hoài nghi, xin mời bạn đi vào một bài thơ 100% dân tộc, cả ở nội dung, cả ở hình thức của Mai - bài Ớppu. Nhiều người đã biết ớppu là một loại giỏ nhỏ đan bằng mây dùng để đựng kim chỉ và đồ trang sức mà người phụ nữ Mường hay đeo ở eo lưng chủ yếu là để làm duyên làm dáng. Mai mượn ớppu để nói về cái tình muôn thuở của cha đối với mẹ. Rất nhiều, rất nhiều tình cảm người cha dồn vào cái vật quý giá này: Tháng chạp đưa em từ mây về/ Cha yêu/ Cha đặt lên gác bếp đến mùa quả thị thơm/ Cha chiều/ Đan từ trăng bé đến trăng tròn mới gọi được tên em. Thế rồi: Cha vòng tay đeo em vào lưng mẹ, thực ra là: Đặt và cái nhớ cái thương.  Kể từ đấy: Quanh năm em ôm lưng mẹ/ Quanh năm em được mẹ ru, chỉ nhằm tới một mục đích: Suốt đời mẹ làm đẹp lòng cha. Bài thơ kết thúc như bất cứ một bài thơ hay nào khác - giàu khái quát mà thật lắng đọng:  

Em là ớppu

Là cánh hoa màu nâu của mẹ

Là nậm rượu màu mật ong của cha

Không rõ trên đời này có lời ca nào thể hiện tình cảm mẹ cha đặc sắc mà nặng sâu nghĩa tình như vậy không? Chợt nhớ đến nhận xét của Phạm Tiến Duật trong lời Tựa 2003 về thơ Mai: “Thế là kho tàng thơ của các nhà thơ hiện đại Việt Nam lại có thêm một tập thơ hay”. Xin nói thêm, lúc đầu tôi chưa thật tin vào lời anh Duật lắm đâu. Đọc và nghĩ từng bài, từng bài của Nơi cất rượu, tôi vẫn chưa tin. Ôi! Cái thời buổi người ta đưa đẩy nhau đến mức thật giả cứ rối tung lên nhộn nhào nhộn nhạo như bây giờ, xin hãy cẩn trọng, cẩn trọng trước mọi lời  khen. Nhưng cho đến giờ, sau khi đã thật ngấm Mường trong của Mai thì tôi đã tin. Đơn giản vì phải tin. Như không thể nào khác thế. Mai đã vươn lên đứng ở hàng đầu những nhà thơ trẻ Việt Nam đầy triển vọng. Mai lại có cái nhiều nhà thơ trẻ khác không có điều kiện có: chất Dân tộc và Miền núi của mình. Rất mong em hãy giữ mãi tiếng nói ngọt ngào của mật ong rừng, vẻ trong trẻo của suối ngàn nơi thượng nguồn, để:

 Cho cau trổ buồng

Trầu già lá

…Cho cái đăng cái đó bén cá

Cho đôi ta bén nhau suốt đời

Chỉ cần hiểu đôi ta là Mai và thơ Mai là rõ. Xin phép không bàn luận gì thêm nữa.

                                                                                                   Nhà Sáng tác VHNT Nha Trang, 6/2006