Con người thi sỹ trong anh

      Tôi muốn được gọi Phan Hữu Giản là Anh theo nghĩa tinh thần của từ này. Ai có dịp tiếp xúc với anh, dẫu chỉ đôi lần, sẽ có điều kiện cảm thông với cách gọi của tôi. Bản tính Phan Hữu Giản đôn hậu, chân thành từ tốn. Anh đặc biệt luôn sống hết lòng vì đồng chí, đồng nghiệp và bầu bạn, rất đúng với câu Sống nghĩa tình lưu luyến bạn gần xa trong bài Về cùng em của anh.

      Người xưa bảo: Thơ là người, “Kiến thi như kiến nhân” (Nguyễn Du). Thơ, bao đời nay và với bao người, là vậy. Nhưng có lẽ không phải ở đâu và với ai nguyên lý thi ca kia cũng nổi rõ. Với trường hợp Phan Hữu Giản, đọc phần bản thảo thơ anh, có nhiều gợi ý đặt tên tập thơ nghe hay và thơ lắm, nhưng vẫn có gì đó chưa thật hợp với hồn cốt của con người cũng như thơ anh. Đất ấm tình người thành Hương đất tình người để cho bao quát hơn thôi. Ai từng lao tâm khổ tứ trên trang giấy mới thấy việc chọn cái tên cho tác phẩm mang nặng đẻ đau của mình thật không dễ dàng chút nào. Từng bài đã thế, huống hồ tên cho cả tập, lại là tập thơ đầu chắt chiu quá nửa cuộc đời của anh.

      Đọc thơ một người, tôi hay để ý tới quan niệm về thơ của họ. Ý nghĩa của thơ chẳng phải vốn tuỳ thuộc nhiều vào cách ứng xử với thơ đó sao! Thơ là miền đất thiêng – Phan Hữu Giản luôn nghĩ vậy. Anh tâm sự:

                                    Chắc là “duyên - nghiệp” trước sau

                                    Gặp là yêu, đến bạc đầu… càng yêu!

      Nói tới sự ràng buộc giữa duyên đời và duyên thơ đến thành “định mệnh” như anh, thật là can trường. Ngẫm kỹ, tôi thấy anh có lý, và thêm một lý do để mến phục anh. Ôi! Giữa thời buổi có nguy cơ kỹ trị như thời nay còn có người xem trọng thi ca đến vậy thì quý lắm thay! Tôi nhớ tâm sự của Lý Phương Liên – tác giả của những vần thơ nổi danh một thời, như Cò cha, cò mẹ bay đi / Cò con côi cút lấy gì nuôi nhau. Trên tờ Văn nghệ Trẻ  số ra ngày 10 – 08 – 1996, chị chua chát thừa nhận: “Lớp trẻ bây giờ khác lớp trẻ của mình ngày xưa. Văn chương xem ra với chúng chẳng còn thiêng liêng nữa”. Không biết chị nói đúng được bao nhiêu phần trăm? Nếu bước qua ranh giới của con số 50% thì nguy quá, đáng SOS mất rồi! Cứ nghĩ, khi một người còn khả năng rung động trước một câu thơ, thì có thể dám chắc người ấy khó lòng làm nổi một điều ác. Phải chăng lương tâm, và cả lương năng của con người nữa, luôn được bảo lãnh bởi một quyền uy linh thiêng có tên gọi là nghệ thuật?

      Với Phan Hữu Giản, ngoài nguyên do ấy ra, còn một nguyên do khác (có lẽ thường trực hơn) thúc đẩy anh đến với thơ, đó là: Nghĩa tình với Đảng với Dân/ Tiếng thơ sâu lắng nỗi gần niềm xa. Anh vốn là một cán bộ vận động quần chúng của Đảng Cộng sản suốt 40 năm trời. Tính tổ chức là nguyên tắc trước sau như một ở anh:

                                    Lại lên đường như thuở ấy xông pha

                                    Công việc cần làm ai so hơn tính thiệt

      Và tôi rất mừng khi biết rằng để thực hiện ý nguyện lớn lao của đời mình, trong không ít trường hợp, anh đã biết sử dụng hữu hiệu phương tiện thi ca, nghĩa là am tường đặc trưng của nó, không bị nó lấn lướt, sai xử. Xin nêu ra một bài thơ chân thành và xúc động vào bậc nhất của anh – bài Thắm đất ngàn hoa. Phan Hữu Giản viết để tưởng nhớ tới liệt sĩ Nguyễn Văn Nhiên hy sinh anh dũng khi làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn giao thông thành phố. Bài thơ có thể xem là thành công bởi tác giả biết khai thác cái riêng của tình huống và tâm trạng. Người liệt sĩ vừa ngã xuống quê ở Bắc Ninh, nên:

                                    Mới hẹn em về sông Cầu, sông Thương trẩy hội

                                    Câu quan họ giao duyên còn ngập ngừng bối rối

Và khi anh nằm xuống nghĩa trang Đà Lạt rợp bóng thông, ấm tình người, thì:

                                    Cháu bé nhớ chú công an lành hiền thân thuộc

                                    Gạt nước mắt, cố chen vào thắp một nén hương

      Có người cứ tha thẩn tìm chất thơ ở đẩu đâu, tôi nghĩ chất thơ đích thực nằm trong sự xôn xao của cái chung và cái riêng ấy đấy. Để rồi tất cả phập phồng theo nhịp đập trái tim người làm thơ. Rồi khi ấy biết đâu thi ca lại chẳng chắp cánh cho ý nguyện công dân của Phan Hữu Giản có điều kiện vang xa và vọng sâu hơn trong lòng người. Xin dừng lại kiểm nghiệm điều vừa nói ở bài Quê mới được anh sáng tác nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng. Cho đến giờ, thú thật, nhiều người còn e ngại đối với những bài thơ làm nhân dịp một sự kiện nào đó. Cũng có cái lý của họ. Không khí tưởng niệm, lễ lạt, hội hè thường dễ biến thơ hoá thành đại ngôn, khuôn sáo. Dường như, chỉ có một cách vượt thoát là hãy đặt quả tim mình vào đấy. Phải thừa nhận là Phan Hữu Giản đã ít nhiều làm được điều này:

                                    Lên với Tây Nguyên đã mấy thu rồi

                                    Vùng đất lạ bén duyên người thức dậy

                                    Xôn xao rừng thay áo mới

                                    Nương trà nắng trải mông mênh

                                    Cà phê chín đỏ trĩu cành

                                    Vàng ươm biển lúa, sóng xanh dâu đồi

                                    Cầu vươn nhịp nối bờ vui

                                    Đường vào thị trấn nhà tươi mái hồng

Anh kể mà không rơi vào kể lể. Ta bị cuốn theo thơ anh, bởi cảnh ấy người này còn đâu ngăn cách. Chất trữ tình công dân nồng ấm là đây. Có lẽ, đó là chiếc chìa khoá linh diệu giúp ý thức xã hội trong thơ anh giao hoà được với nhiều người. Đây, câu kết bài Bên thác Voi:                                         

                                                Xin làm cây giữ nguồn xa

                                    Đời vui thêm những bến bờ thác reo

Anh đang tuyên truyền cho phong trào trồng rừng bảo vệ môi sinh bằng thơ đấy mà! Và đây nữa, câu thơ khác, có cơ sở thành tiếng nói chung của hết thảy những ai tự nguyện gắn đời mình với Đà Lạt thân thương:

                                    Xa quê hương đi quá nửa đời người

                                    Hồn đã quyện với mây trời Đà Lạt

      Có thể xem đó là những vần thơ hay có sức ngân nga nhờ mối giao cảm đặc biệt giữa người viết và người đọc. Cố nhiên, để những vần thơ có sức neo giữ lâu trong lòng người còn cần thoả mãn một yêu cầu thiết yếu khác: chất suy nghĩ. Nhiều bài thơ của Phan Hữu Giản không chỉ khiến ta rung động mà còn khiến ta trăn trở, ưu tư. Đọc bài Nhớ Lâm Hà được viết vào năm 1993, tôi biết anh là người sống đầy trách nhiệm. Câu thơ sau mách bảo tôi về điều đó:

                                                Ngược rừng suối lũ mưa trơn

                                    Xót lòng đau cảnh làng buôn nhọc nhằn

Tuyệt nhiên không thấy gợn lên vẻ giả tạo nào ở nơi đây. Nỗi niềm chân thật của người cán bộ làm thơ đã thật sự thuyết phục chúng ta ngay cả với những người đọc thơ khó tính. Tâm sự về thời cuộc của anh đặc biệt thấm thía trong bài rất Phan Hữu Giản – bài Về với K’long K’lanh:

                                                Nhưng hơn hai chục năm rồi

                                       Bà con mình vẫn ngô khoai bốn mùa

                                                Nhà xiêu mái lá phên thưa

                                       Bếp tàn đêm lạnh gió lùa căm căm

      Thật là một người cán bộ có tâm. Hẳn nhiên, chỉ với nhiệt huyết và tấm lòng mọi sự đổi  thay chưa thể có được, nhưng thiếu tấm lòng và nhiệt huyết  thì chắc chắn sẽ không thể có một động lực đổi thay nào cả. Vậy nên, một khi Phan Hữu Giản có lên tiếng trách cứ trong thơ thì cũng không phải là vô duyên cớ:

                                    Trách ai ngoảnh mặt, khoanh tay

                                    Lãng quên ý đẹp, lời hay một thời.

Đã có biết bao lời hứa hẹn ngày trước, giờ ai nhớ ai quên? Câu thơ như một lời nhắc nhủ - nhắc nhủ mình và nhắc nhủ người. Tôi tin vào tấm lòng thành của những người cán bộ như anh. Để tôi có điều kiện nhận ra động lực sâu xa khiến anh viết bài Chuyện lạ Thập Tam Lăng đậm lòng ưu thời mẫn thế. Bài thơ thiên về triết lý nhưng là thứ triết lý sống động, từ đời sinh ra và có thiên hướng trở lại với đời.

                                    Đến thăm Thập Tam Lăng

                                    Gặp những tấm bia câm

                                    Bởi công rất khó viết

                                    Kể tội càng không xong

                                    Đành để mòn năm tháng

                                    Đời ngắm bia… hiểu ngầm

Câu kết để ngỏ mà không vô định hướng. Với người đời và với hậu thế, công tội bao giờ cũng được phân minh. Xin nhớ điều đó trước khi bắt tay vào làm mọi việc lớn nhỏ ở đời… Ý thơ anh gợi tôi nghĩ như thế!

      Vậy là con người công dân trong thơ Phan Hữu Giản ít khi đơn giản một chiều. Anh vốn là con đẻ của đất Thăng Long ngàn năm văn hiến. Bề dày văn hoá của Bắc Hà không cho phép anh bộc lộ cảm xúc một cách dễ dãi, hời hợt. Anh thấu hiểu:

                                    Một kiếp phù du theo dòng thời gian lãng trôi

                                    Chỉ có những hạt phù sa cùng người ở lại

Chất nghệ sĩ trong anh cũng có cội nguồn sâu xa từ đó. Để rồi không ít lần trong cuộc đời, anh quay trở về với thế giới riêng, rất riêng của chính mình:

                                   Mình một thuyền đầy trăng mờ sương

                                    Bồng bềnh trôi trên hồ Xuân Hương

                                    Sóng dậy cồn cào… con nước lặng!

                                    Bến mới còn xa mấy dặm trường?

      Như bao người khác, lòng anh đôi lúc cũng sóng dậy cồn cào thế đấy! Phải nói là con người nghệ sĩ đam mê, con người nghệ sĩ đích thực chưa bao giờ được sống hết mình như những lúc này. Một loạt bài thơ có thể xem là hay như Mimôsa, Hòn Vọng Phu, Với biển… được sinh ra từ đó. Tôi muốn dừng lâu hơn ở bài Với biển bởi nó được nhạc sĩ Đình Nghĩ chọn phổ nhạc. Anh là một nhạc sĩ trẻ, tài hoa. Một người như thế ít khi làm nghệ thuật bởi những nguyên do ngoài nghệ thuật. Ý tôi muốn nói, trong trường hợp này, chất thơ hòa quyện với chất nhạc một cách tự nhiên, không bó buộc, càng không cưỡng ép. Còn nhớ, đâu vào đầu năm 1998, tại Nhà sáng tác Văn học Nghệ thuật Đà Lạt, tôi được nghe Đình Nghĩ trực tiếp hát bài Với biển. Thật khó quên âm điệu cùng lời ca dào dạt mà da diết sau:

                                    Trời - nước xanh như mới hôm nào

                                    Tình biển mặn nồng cay đôi mắt

                                    Bụi gió sương nhuốm bạc mái đầu…

           Tôi chợt bất giác chạnh nghĩ: Phan Hữu Giản năm nay cũng đã gần kề tuổi sáu mươi rồi. Thoáng rùng mình trong tôi qua nhanh khi đọc tới câu thơ này của anh: Mải nghe chim hót/ Quên ta bạc đầu. Xin được chia sẻ với tính mục đích trước sau như một của đời anh. Rất mừng là trên đường đời của Phan Hữu Giản không mấy khi vắng bóng nàng thơ. Để rồi tâm hồn anh có thể an nhiên, nhất là có thể trẻ trung sau bao nhiêu mưa nắng của cuộc đời. Nghĩ vậy, tôi càng tin vào nguồn lực sáng tạo còn dồi dào trong con người thi sĩ ẩn nơi anh…