Vai trò của Á Nam Trần Tuấn Khải trong buổi đầu hiện đại hóa thơ Quốc ngữ

        Việc nghiên cứu thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải hiện còn nghiêng về những đóng góp nội dung nghệ thuật, nhất là nội dung tư tưởng. Cần chú trọng hơn tới những đóng góp của ông cùng thế hệ ông về mặt hình thức thi ca. Bởi, nói gì thì nói, văn chương, nhất là thi ca trước hết là nghệ thuật ngôn từ. Ông cùng với các nhà thơ xuất hiện vào thập kỷ thứ 10, khẳng định tên tuối mình trong thập kỷ 20 của thế kỷ trước như Tản Đàn, Đòan Như Khuê, Tương Phố, Đông Hồ … đã có công lớn trong việc làm cho nền thi ca dân tộc viết bằng chữ Quốc ngữ thêm nhuần nhị để có thể đĩnh đạc bước vào khung trời hiện đại ngay sau 1932 với Phong trào Thơ Mới.

Bài thơ Tiễn chân anh Khóa xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải thật nhuần nhuyễn giữa tình, ý và lời:

Anh Khóa ơi! Em tiễn chân anh xuống tận bến tàu,

Đôi tay em đỡ lấy cái khăn trầu, em lấy đưa anh.

Tay cầm trầu, giọt lệ chảy quanh,

Anh xơi một miếng cho bõ chút tình em nhớ thương!

        Khó có thể hình dung là câu thơ Quốc ngữ trong buổi lê minh mà lại có được sự chin muồi ấy. Những câu thơ trong Lâm giang khúc vịnh bà Bùi Văn Khuê cũng vậy, nếu bỏ“than ôi”đi thì hầu như lẫn vào những câu thơ mới nhất trong Phong trào Thơ Mới chục năm sau:

Nước sông man mác chảy,

Lệ thảm đầm đìa rơi.

…Trời nước bao la thấu nỗi đời

Than ôi!

Dây loan đứt,

Chiếc bách trôi.

Cứ như những câu thơ của thi sỹ Lưu Trọng Lư sau này!

Có thể giải thích thành công ấy nhờ khả năng vận dụng các thể thơ dân tộc ở Á Nam Trần Tuấn Khải. Rõ nhất là thể hát nói. Các nhà nghiên cứu có lý khi thấy dấu ấn của thể thơ đậm màu sắc dân tộc này trong công cuộc cách tân hình thức thơ vào thế kỷ XX. Thể hát nói thuần dân tộc vốn gắn với ca trù dung nạp được cả ngâm lẫn nói, cả vần chân cả vần lưng, cả vần bằng và vần chắc. Kết cấu bài thơ cũng khá uyển chuyển. Chấp nhận dôi khổ tới 23, thậm chí 27 câu trong một bài. Nhất là số tiếng của câu thơ. Có thể từ 4 đến 12 – 13 chữ, thậm chí những câu gối hạc kéo dài tới 20 chữ. Lục bát và song thất lục bát ở đây biến thể khá là phóng đạt. Tất cả là để hướng tới sự diễn tả sao cho đắc dụng nhất tâm trạng của con người hiện đại vốn không còn giản đơn như trước nữa. Những câu thơ trong bài Con hoàng anh khá phóng khóang, ít bị câu thúc bởi lề luật,  gần với xu hướng diễn đạt hiện đại:

Này hỡi con hoàng anh kia ơi!

Mi ăn mi hót, mi nhảy, mi nhót, mi thánh thót ở trong cái lồng,

Vui thì vui thực, sướng thì sướng thực, nhưng cá chậu chim lồng cũng   chẳng ra chi!

Tuy nhiên, cần có cái nhìn rộng hơn trong việc lý giải những đóng góp của Á Nam Trần Tuấn Khải và thế hệ thi sỹ cùng thời với ông trên phương diện hiện đại hóa hình thức thơ Quốc ngữ. Nghiên cứu tiến trình thơ Quốc ngữ, ta không thể bỏ qua lịch sử hình thành và  hòan thiện của chính chữ Quốc ngữ. Có thể xem năm 1651 là cột mốc quan trọng. Vào năm đó, Alecxandre de Rhodes (1591 - 1660) đã cho công bố cuốn từ điển đầu tiên về tiếng Việt - Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha - Latinh, và cuốn sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ - Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức chúa Trời. Công chế tác chữ Quốc ngữ thuộc về nhiều giáo sỹ ở nhiều nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia, Pháp, Hà Lan … Nhưng công đầu rõ ràng thuộc về A. de Rhodes. Để rồi trên cơ sở đó, cố Bá Đa Lộc (1741 - 1799) khởi đầu việc chỉnh lý, phát triển thêm chữ Quốc ngữ qua Từ điển An Nam - Latinh, và cố Tabert kế tục công việc đầy ý nghĩa này bằng Nam Việt Dương Hiệp tự vựng (in ở Bengale, Ấn Độ, 1838) để cho nó có dạng thức ổn định như ngày nay.

Về tác động hai chiều của kẻ xâm lược, còn phải kể đến việc bãi bỏ chế độ học hành và thi cử Hán Nho ở Nam Kỳ 1861, Bắc Kỳ 1915 và Trung Kỳ 1919. Cũng đừng quên cái mốc đáng nhớ cách đây vừa tròn 100 năm, vào 1906, khi thực dân Pháp bắt đầu áp dụng đạo dụ sửa đổi phép học và phép thi ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, theo đó chữ Quốc ngữ cùng chữ Pháp được phụ giảng thêm vào chương trình đào tạo theo Hán Nho. Tuy, như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, do ưu thế dễ thấy của chữ Quốc ngữ so với chữ Nôm, nhiều bậc thức giả ở ta đã chủ động nắm bắt phương tiện sắc bén, hữu hiệu này. Đi tiên phong là phong trào Đông Kinh nghiã thục 1907- 1908, với việc gọi chữ Quốc ngữ là “văn tự nước nhà”và xem đó là một trong sáu kế sách để “mở mang dân trí giữa nghìn muôn khó khăn”. Chẳng thể quên những câu thơ thống thiết như:

                      Chữ ta ta đã thuộc lầu,

                      Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài …

             Nhờ thế, thứ chữ mới mẻ đã đi bằng gia tốc lịch sử. Còn nhớ nhà thơ danh tiếng Bắc Hà Tú Xương (1870 - 1907) mới đó thôi còn xót xa khi nói tới sự thể “quẳng bút lông đi”, rồi không tiếc lời mai mỉa chữ Quốc ngữ là“Ă, ớ, u, ơ, ngọn bút chì”.  Nếu đúng Tình Si Tử là học giả Phan Kế Bính (1875 - 1921) chỉ thua Tú Xương đúng 5 tuổi, thì quả là một hiện tượng lạ lùng khi trong Hủ Nho tự trào in trên Đông Dương tạp chí tại Hà Nội tháng 6 / 1914, ta bắt gặp một thái độ đối với chữ Quốc ngữ thật dứt khóat và kiên quyết:

                        Ngâm câu giả, dã, đùi rung rẩy   

                        Ngó chữ a, b, mắt quáng lòa

Rất mừng là thái độ đó không phải của riêng người rất sành văn Quốc ngữ họ Phan.

Cố nhiên, ta không thể tách rời sự cách tân thi ca Quốc ngữ của thế hệ Á Nam Trần Tuấn Khải với tiến trình giải phóng thơ Quốc ngữ dân tộc khỏi vòng cương tỏa của luật lệ thơ Trung đại viết bằng chữ Hán và chữ Nôm vốn tồn tại từ hàng ngàn năm trước. Ta cần nhớ tới sự xuất hiện của những bài thơ với dạng chữ mới ở Nam Kỳ ngay từ cuối thế kỷ XIX, như Thơ dạy làm dâu (1882), Phú bần truyện diễn ca (1885) …Và trước đó là những bài thơ đăng rải rác trên tờ Gia Định báo, tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ra đời từ năm 1865. Trong vẻ chập chững buổi đầu, ta đã kịp nhận ra thấp thóang những tín hiệu vui, để bước vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX, Thiên Đào sẽ có Nhàn trung tạp vịnh (907) và Nguyễn Liêng Phong  sẽ có Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca (1909) … Song, phải thừa nhận rằng, chỉ đến thế hệ thi sỹ xuất hiện vào những năm 10 – 20 của thế kỷ trước mà Tản Đà và Á Nam là những người đứng ở hàng đầu, thì dấu hiệu hiện đại của thi ca Việt mới được đẩy nhanh và mạnh như chính đòi hỏi và mong đợi của đời sống văn chương.

Cũng cần nhấn mạnh tới sự đổi thay của tình thơ trước điệu thơ, lời thơ. Chính việc giải phóng cái tôi cá nhân của giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản tập trung ở thị thành đã buộc hình hài thi ca dân tộc phải đổi khác. Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu lý giải sự chậm trễ của thi ca Quốc ngữ so với văn xuôi Quốc ngữ chỉ bằng đặc trưng  trong sạch của tâm hồn để nó có thể say sưa hứơng về cái đẹp như quan niệm của một đôi nhà nghiên cứu (Xin xem Khải luận Tổng tập văn học Việt Nam, Tập XX). Hình thức ngôn từ văn chương, nói riêng là hình thức ngôn từ thi ca có những nét đặc thù rất cần được quan tâm chú ý.

Chẳng hạn, gần đây, có nhiều quan niệm khá mới mẻ về vai trò diễn đạt của ngôn ngữ đến từ phương Tây, buộc ta phải nhìn nhận sao cho sát hợp hơn  chung quanh yêu cầu sáng tạo ngôn từ của nhà văn. Jacques Derrida, nhà lý luận của cấu trúc phân giải, trong 3 công trình tiêu biểu nhất công bố vào năm 1967 là Ngôn ngữ học viết; Ngôn ngữ về hiện tượng; văn tự và sai biệt đã tập trung chú ý tới mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn tự. Trước hết, ông phủ nhận quan niệm “dĩ ngôn vi trung”, tuyệt đối hóa vai trò của ngôn ngữ trong việc biểu đạt trung thành và hoàn thiện hiện thực đời sống và tư tưởng con người. Theo ông, khi một sự vật nào đó được ngôn ngữ, kể cả ngôn ngữ tác phẩm văn chương, biểu đạt thì sự vật đó đã trở thành quá khứ, không còn nguyên dạng nữa. Vậy thì làm sao ngôn ngữ có thể theo kịp sự diễn biến của đời sống và con người (* tr.509 - 510). Riêng về điểm này, bậc tiền bối của ông là Henri Bergson (1859-1941) đã từng nói tới. Theo H.Bergson thì “trừ những danh từ riêng, còn nói chung từ ngữ đều chỉ loại, chỉ chú ý phương diện phổ biến nhất và công dụng nhất, nó ngăn cản giữa chúng ta với ngoại vật, che đậy chân tướng ngoại vật trước mắt chúng ta”. Nhà triết học theo chủ nghĩa trực giác người Pháp này còn nhấn mạnh rằng, ngôn ngữ che chắn cả thế giới nội tâm của mỗi con người đối với nhận thức của chính họ. Kết quả là “chúng ta sống trong vùng trung gian… vừa ở bên ngoài ngoại vật, vừa ở bên ngoài cả tự thân chúng ta” (* tr.194). Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Jacques Derrida là đã chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn tự. Ông khẳng định mối quan hệ này chỉ là tương đối, tựa như mối quan hệ giữa linh hồn bên trong và thể xác bên ngoài của con người. Vậy là, khi sử dụng chữ viết, nhà văn, nhất là nhà thơ, đứng trước thử thách gần như gấp đôi.

Nói cặn kẽ ra thế để thấy rõ hơn những đóng góp đáng kể của Á Nam Trần Tuấn Khải, và không chỉ có thế, còn để nhận ra  những bài học quý báu rút ra từ văn nghiệp của ông. Bài học ấy là gì? Đứng trước yêu cầu Việt hóa nhằm mau chóng hiện đại hóa thi ca dân tộc, thi sỹ chắc phải suy nghĩ nhiều để tìm ra một lối đi phù hợp mà hiệu quả nhất. Hướng về những thành tựu thi ca Quốc âm viết bằng chữ Nôm trong quá khứ chăng? Thật khó tìm ra câu trả lời  thỏa đáng. Vì nói gì thì nói, chữ Nôm thể hiện tinh thần dân tộc trong ý thức người sáng tạo nhiều hơn là trong thực tiễn sáng tạo. Cứ nhìn sự lệ thuộc trong cấu tạo của chữ Nôm vào chữ Hán cũng đủ rõ. Ở đây, thi sỹ của chúng ta đã tìm tính dân tộc trong ngọn nguồn trong trẻo chảy bao đời nay là văn chương dân gian. Thực tế chứng tỏ ông đã đi đúng hướng. Tìm hiểu thi ca Quốc ngữ trong giai đọan này cần để ý tới hiện tượng các thi sỹ  rất ưa sáng tác ca dao. Như Tản Đà, Đòan Như khuê, Đặng Trần Phất … Nhưng nổi hẳn lên là Á Nam Trần Tuấn Khải. Ông không chỉ viết nhiều phong dao. Ông còn thành công hơn những người khác. Bài phong dao sau của Á Nam Trần Tuấn Khải nhập thẳng vào kho tàng văn vần dân gian, và được xem như là một trong những hạt ngọc lấp lánh nhất:

Anh đi anh nhớ quê nhà,

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.

Nhớ ai dãi nắng dầm sương,

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao!

Có thể kể thêm bài phong dao này nữa của ông:

Rủ nhau xuống bể tìm cua,

Đem về nấu quả mơ chua trên rừng.

Em ơi, chua ngọt đã từng!

Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.

Như vậy, ta cần nhận ra đóng góp nhiều mặt của Á Nam Trần Tuấn Khải cùng thế hệ thi sỹ xuất hiện trong thập kỷ 10 - 20 của thế kỷ XX vào di sản thi ca dân tộc. Tư tưởng yêu nước của họ là thật đáng quý. Sự cách tân của họ về hình thức thơ Quốc ngữ trong buổi giao thời cũng quý không kém. Vả chăng, trong văn chương, cũng không nên và không thể tách rời hai mặt này ra!

                                                                                                               Đà Lạt, 3 /7/2006

 

 

* Phương Lựu, Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.