Tiếp cận "Di cảo thơ"

Đã có nhiều nhận xét khác nhau thậm chí nghịch nhau từ khi Di cảo thơ Chế Lan Viên được nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành. Cũng không có gì là lạ. Song cái đáng nói là một số ý kiến đánh giá cả khen lẫn chê không thật xác đáng lại do vô tình tách rời, đôi khi quá mức, tính chất của đối tượng nghiên cứu.

Có lẽ sẽ không thừa nếu nhắc lại nhiều lần rằng những bài in trong Di cảo thơ dù đã hoàn thiện hay còn dở dang đều cũng nên coi là những tác phẩm đặc biệt, công bố không qua ý kiến của người viết. Không phải không tin vào sự chọn lựa của nhà văn Vũ Thị Thường – người bạn đời thân thiết của nhà thơ quá cố. Chị có thể nói là người có thẩm quyền cao nhất trong việc công bố Di cảo thơ Anh, bởi chị là người hiểu Anh nhất. Chị lại từng làm “Tuyển thơ Chế Lan Viên” khi anh còn sống, nghĩa là Anh đã từng đặt niềm tin vào khả năng thẩm định của chị đối với thơ mình. Việc chị quyết định công bố một số bài thơ trong Di cảo của Anh là cần thiết và hữu ích. Và, trên thực tế, Di cảo đã đáp ứng được sự mong đợi khác nhau của người đọc chúng ta.

Nhưng dẫu thế nào thì chị cũng không phải là Anh, những gì chị công bố vẫn không được sự xem xét lại lần cuối của Anh. Mà ai cũng biết Chế Lan Viên vừa là nhà thơ tài năng vừa là nhà phê bình sắc sảo. Anh vốn khe khắt với mình không ít hơn khe khắt với người. Nội việc Anh đắn đo, cân nhắc việc “chọn” và “bỏ” khi làm “Tuyển thơ Hàn Mạc Tử” cũng đủ chứng tỏ điều này. Nếu có dịp công bố thơ mình chắc Anh sẽ thận trọng không kém thế. In tác phẩm là chấp nhận sự phán xét của công chúng, đặc biệt là giới phê bình. Kinh nghiệm cho anh biết là không ít người trong số họ rất hay xét nét “chẻ sợi tóc làm tư”. Đấy là chưa nói, như những nhà thơ tài năng khác, Anh luôn có kẻ thù địch. Họ luôn rình rập quanh Anh đầy ác ý. Có lúc, không kiềm nổi, Anh đã thốt lên: “Họ nhắm bắn tên mình, bóng mình, bìa sách mình mỗi khi mình xuất hiện” (Vết thương). Anh còn chua chát viết trong  “Từ thế chi ca” rằng:

Những kẻ nguyền rủa anh sẽ buồn

Chả còn anh cho họ giết

Dao sẵn rồi, họ không dễ để yên.

Bản năng tự vệ khiến Anh vốn đã cẩn trọng sẽ càng cẩn trọng hơn.

Nhiều bài còn ở dạng phác thảo “ghi vội suy nghĩ, cảm xúc của mình” còn đáng nói hơn. Phác thảo thì cần tiếp tục hoàn thiện, không chỉ làm cho lời thơ “chuốt” hơn mà còn làm cho ý thơ nhuần hơn. Một số bài trong đó thậm chí sẽ còn được viết lại, mở rộng ra, chỉnh đốn thêm, và nâng cao hơn. Bài “Bến đò tiễn mẹ” là một dẫn dụ. Bài thơ hầu như được viết lại vào năm 1988 từ bài “Ngũ tuyệt về mẹ” viết từ năm 1969. Di cảo có chừng 16 bài thơ ấp ủ từ những năm trước được hoàn thành vào 2 năm 1987-1988. Vậy là ta sẽ có không ít bài trong Di cảo không được công bố hoặc công bố với bộ mặt khác hẳn nếu Chế Lan Viên có dịp “kiểm duyệt” lần cuối. Chắc hẳn thế! Nói vậy, tôi không có ý định phủ nhận cái quyền xem xét, đánh giá của giới độc giả và giới phê bình đối với Di cảo thơ. Tôi chỉ muốn lưu tâm tới tính riêng biệt của Di cảo trong cảm thụ và bính giá. Sinh thời, làm xong tuyển tập thơ mình, Chế Lan Viên nói rất có lý rằng: “Tôi xem như đắp xong cái mộ rồi, khá cũng thế mà kém cũng đánh thế, biết sao...”. Vậy công việc chính của người nghiên cứu, theo tôi, là hãy gắng tìm hiểu “cái mộ” đã đắp xong ấy, chỉ nên dùng Di cảo để soi sáng thêm thôi. Đây không phải là chuyện “chiếu cố” hay “không chiếu cố”. Chế Lan Viên không cần đến sự chiếu cố ngay cả khi rơi vào tình cảnh đặc biệt già cả và bệnh tật. Tài năng Anh đủ lớn để coi mọi sự đoái hoài, xót thương đều là sự xúc phạm nghiêm trọng đến bản thân. Chẳng qua tính khách quan khoa học đòi hỏi thế. Chúng ta có thể từ Di cảo ngược trở lại dòng thơ Anh mà xem xét mọi lẽ nông sâu, trong đục. Vâng, quan trọng đấy nhưng chỉ là chuyện “thêm vào”. Vì đây không phải là “cái mộ” khác với “cái mộ” đã có. Xem là “cái mộ “ mới lại càng không thể. Nhà thơ đã nằm xuống rồi, có ý định xây mộ nào đâu. Chớ đắp nên “mộ giả” vì đó có nguy cơ sẽ không phải là khoa học mà là “ngụy” khoa học. Đây là tình, nhưng quan trọng hơn là lý. Được vậy, nhà thơ yêu quý của chúng ta mới yên lòng “ngậm cười chín suối”. Và do đó chúng ta mới mong làm tròn bổn phận của mình trước người đã khuất.

Coi Di cảo thơ chỉ là tài liệu “tham khảo” chưa phải là “giáo trình” chính thức là cần nhưng chưa đủ. Cách đọc thơ Anh và nói riêng là Di cảo của Anh quan trọng không kém. Những ngày cuối đời, Anh nghĩ nhiều đến Hàn Mạc Tử và nhất là tới Nguyễn Du. Vì lẽ gì? Có lẽ chủ yếu vì thơ họ là đích đến của sự tìm tòi trong thơ Anh: Thơ hay là từ lòng người viết đi ra. Đó là những “giọt máu” được đúc lại thành thơ. Thiếu nó thì thơ sẽ rơi vào “cái hồ lãng quên” để rồi “anh sẽ mất cả chì lẫn chài ở giữa vô danh”. Rồi bạn đọc các thế hệ sẽ tới soi mình trong thơ Anh, gọi hồn thơ Anh dậy. Chế Lan Viên nghĩ rằng không phải khi nào “cục máu” đã hóa thành con bống thơ cũng “trồi lên” đáp lại tiếng gọi của người đọc đâu! Muốn đạt được ý nguyện người gọi phải là Tấm chứ không thể là Cám. Mối giao cảm, sự đồng cảm quyết định cảm thụ thi ca là thế. Ta chợt hiểu vì sao vào những năm cuối đời, nhà thơ thường xuyên hướng tới bạn đọc bình thường, bạn đọc mai hậu – những người có khả năng nhỏ những giọt nước mắt “hồi âm”. Chỉ vậy cũng đủ khiến nhà thơ yên lòng nhắm mắt trong Cõi Vô Cùng.

Yêu cầu thì có vẻ đơn giản mà thực hiện thì không đơn giản chút nào. Hãy gắng đáp ứng mong mỏi của Anh: “Lật trái trang thơ, may ra anh đọc được trên kia đời tôi một ít” (Dệt Thảm). Không thể, sự vô tình trong ta thật khó tránh hkỏi đưa tới chỗ nhẫn tâm.

Để kết luận, tôi muốn nhắc tới câu thơ này của Chế Lan Viên:

Tôi chôn hàng trăm hài hòa vào trang thơ

Bới lên chỉ nhặt được xương ga

                                                 (Cô Tấm)

Xin bạn đọc hãy chôn “xương gà” nhặt được trong lần đọc đầu tiên vào tâm trí mình thêm một lần, rồi một lần nữa để nhận được “hài hòa” trong thơ Anh – nhà thơ kính yêu đã nằm xuống cách đây vừa tròn 5 năm.

                                                                                                             Đà Lạt, 18-6-1994