Tiếng cười cảm hóa lòng người trong văn Hồ Chí Minh

Nhiều nhà nghiên cứu đã bàn về sắc thái tiếng cười của Hồ Chí Minh trong “Nhật ký trong tù”. Một số nhà nghiên cứu khác cũng đã nói tới tiếng cười như một vũ khí sắc bén trước kẻ thù giai cấp và dân tộc trong văn Người. Vấn đề cần đặt ra là: đối với nội bộ mình, giai cấp và nhân dân mình thì tiếng cười của Hồ Chí Minh như thế nào? Chúng tôi chỉ tập trung khảo sát qua văn của Người (*).

Ta biết rằng, ở bất cứ trường hợp nào, trong đời sống cũng như trong nghệ thuật, tiếng cười chỉ phát ra khi có mâu thuẫn. Trong văn Hồ Chí Minh, tiếng cười nảy sinh cũng không ngoài quy luật chung này. Người biết khai thác những mâu thuẫn đa dạng của các hiện tượng dễ gây cười. Có khi là sự đối lập giữa lời nói và hành động: “Đảng ta thường kêu gọi khoa học hóa, dân tộc hóa, đại chúng hóa. Khẩu hiệu đó rất đúng. Tiếc vì nhiều cán bộ và đảng viên có hóa gì đâu !... Thậm chí, miệng càng hô ‘đại chúng hóa’, mà trong lúc thực hành thì lại ‘tiểu chúng hóa”’. Trường hợp khác lại là mâu thuẫn giữa yêu cầu công việc và việc thực hiện yêu cầu đó trong thực tế: “Tục ngữ nói ‘gẩy đàn tai trâu’ là có ý chế người nghe không hiểu. Song những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu, thì chính người đó là ‘trâu”’. Người làm công tác tuyên truyền đáng lý cần được người đọc người nghe cảm thông thì lại “viết và nói khó hiểu”? Nhiều khi Hồ Chí Minh tập trung khai thác sự khác biệt giữa trình độ và sự biểu hiện tự nhiên của trình độ đó trong giao tiếp. Điển hình là bệnh “dốt hay nói chữ”. Một lần, Người nêu ra một số ví dụ về cái bệnh trớ trêu đó thế này:

- Các đồng chí phải luyến ái nhau (thân ái nhau),

- Thưa chị em, tôi xin báo cáo kinh nguyệt của tôi trong tháng này.

Đặc biệt Hồ Chí Minh còn phát hiện sự tương phản giữa ý nghĩa tốt đẹp cần có của hành động theo nghĩa  thông thường có ý nghĩa bị xuyên tạc một cách cố tình của hành động đó trong thực tế: “Đã có xe rồi, lại ‘phấn đấu’ để có chiếc xe đẹp hơn, chiếm phần của người khác. Đã có nhà rồi, lại ‘phấn đấu’ theo kiểu như thế để có nhà đẹp hơn”. Có thể thấy Người đã triệt để vận dụng những mâu thuẫn đa dạng để tạo nên tiếng cười với những sắc thái, cung bậc khác nhau tùy từng đối tượng, từng trường hợp cụ thể như thế nào.

Để bộc lộ những mâu thuẫn nói trên, Hồ Chí Minh sử dụng tài tình, linh hoạt mọi hình thức gây cười vốn có trong truyền thống văn chương dân tộc, nhất là truyền thống văn chương bình dân. Hãy xem Người chơi chữ: “Trung ương thường nhắc nhở các địa phương: ‘Chúng ta phải ra sức sản xuất và tiết kiệm’. Nhiều nơi đã thực hiện tốt. Nhưng có nơi, giấy gửi đi hình như chữ bị hao mòn, chữ ‘tiết kiệm’ lại hóa ra chữ ‘tiết canh’”. Sức mạnh của tục ngữ, thành ngữ trong tay Hồ Chí Minh thường được tận dụng đến mức tối đa. Chế nhạo óc làm thuê, Người đưa ra một câu tục ngữ ngắn gọn, quen thuộc: “Ăn cơm chúa, múa tối ngày”. Đôi khi từ Hồ Chí Minh dùng một cách cố ý cũng đủ bật lên tiếng cười thâm trầm và sắc sảo: “Hình như mấy chú vẽ cho mình xem, chứ không phải vẽ cho quần chúng. Vẽ con gái đánh giặc mà các chú bắt người ta phải mặc áo dài tha thướt và đội nón bài thơ”. Khẩu ngữ trong nhiều trường hợp cũng được Hồ Chí Minh huy động làm tăng thêm vẻ mỉa mai, nhẹ nhàng mà sâu sắc: “Có người chỉ muốn làm cái gì để ‘lưu danh thiên cổ’ cơ. Muốn bài viết cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn”. Nhiều nhất là Người thường nhắc lại lời nói của đối tượng đáng cười một cách tự nhiên mà đầy dụng ý: “Vì chưa gột sạch chủ nghĩa cá nhân, cho nên có đảng viên còn ‘kể công’ với Đảng. Có ít nhiều thành tích thì họ muốn Đảng ‘cảm ơn’ họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ. Nếu không thỏa mãn yêu cầu của họ thì họ oán trách Đảng, cho rằng họ ‘không có tiền đồ’, họ ‘bị hy sinh’”. Quả là, hình thức gây cười không hề đơn điệu. Không có một tầm hiểu biết và vốn sống sâu rộng, không đạt tới sự tinh thông ngôn ngữ dân tộc, không thể có sự phong phú trong việc phê phán bằng hình thức trào lộng như vậy.

Khi tìm được những hình thức phù hợp, tiếng cười trong văn Hồ Chí Minh tự nhiên mang những sắc thái khác nhau. Có tiếng cười hài hước, hóm hỉnh. Trong buổi nói chuyện với các cán bộ và đảng viên hoạt động lâu năm Người nói: “Già có việc già, trẻ có việc trẻ. Tục ngữ có câu ‘Măng mọc quá pheo’. Măng mọc sau mà tốt hơn tre đấy. Không lẽ ta nói ‘Măng, sao mày mọc quá tao?’”. Cũng có tiếng cười châm biếm sâu cay. Người viết trong “Sửa đổi lối làm việc”: “Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác. Nhưng không có ích cho người xem. Khác nào với băng bó mụn lở, đã thối lại dài”. Cố nhiên, sắc thái tiếng cười chủ yếu phụ thuộc vào mức độ và tính chất của cái đáng cười. Không phải vô cớ mà cái lố bịch trong cách nói và cách viết như thói dài dòng mà rỗng tuếch, bệnh dốt lại hay nói chữ... lại bị Hồ Chí Minh  cười cợt một cách sâu cay đến như thế. Về cái hại của thói dài dòng mà rỗng tuyếch Người viết: “Kết quả chỉ để cho những ai vô công rồi nghề xem, và người xem cũng mắc phải thói xấu như người viết”. Còn bệnh dốt hay nói chữ thì Hồ Chí Minh cho rằng nó đã “lây ra” và đã “làm hại” đến quần chúng. Tác hại trầm trọng như vậy nên chỉ còn cách chế diễu nó để đẩy lùi nó bằng một tiếng cười gay gắt mà thôi.

Có điều, phải thấy rằng, mức độ và tính chất của cái đáng cười lại thường tùy thuộc vào đối tượng mà cái cười hướng tới. Không thiếu gì những tiếng cười vô duyên, không đúng lúc, đúng chỗ, nhất là không phù hợp với đối tượng. Tuyện nhiên không gặp một trường hợp nào tương tự trong văn Hồ Chí Minh. Là một người rất có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ, Người bao giờ cũng xác định rõ: mình đang nói cho ai nghe, đang viết cho ai xem. Với những người gần gũi dễ cảm thông, Hồ Chí Minh thường cảm hóa bằng tiếng cười nhẹ nhàng, xởi lởi. Một lần, trong cuộc gặp gỡ với những cán bộ và đảng viên hoạt động lâu năm, Người nói: “Cố nhiên, đối với các đồng chí già, đồng chí trẻ phải có những hành động tỏ rõ lòng tôn trọng của mình... Nhưng cũng không phải ‘xuân thu lưỡng kỳ’ để đồng chí già lên kiệu và khiêng đi. Nếu làm như thế thật là vô lý”. Trước  đó Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại: “Tôi năm nay 71”, “chúng ta là đảng viên già”. Và một lần khác, trong thư gửi các vị phụ lão, Người viết: “Đây tôi lấy danh nghĩa là một người già, mà nói chuyện với các cụ”. Rồi sau đó Hồ Chí Minh vui vẻ phê phán: “Tục ngữ có câu ‘Lão là tài tận’, thường các cụ phụ lão ta cũng tin như vậy. Gặp việc gì các cụ đều nói: “Lão già chi an” (người già nên ở yên) mình tuổi tác ngày cao, không bay nhảy gì nữa. Việc đời để cho con cháu bầy trẻ làm. Chúng ta đã gần đất xa trời rồi, không cần hoạt động nữa”. Thái độ của Hồ Chí Minh như nhắn nhủ mọi người: đừng sợ khuyết điểm, người cộng sản có phải là thánh nhân đâu. Quan trọng hơn cả là biết nhìn thẳng vào sai sót  để mạnh dạn sửa chữa. Đó là dũng khí và phẩm chất của người cách mạng chân chính.

Đọc văn Hồ Chí Minh, thấm thía tiếng cười mang sức mạnh cải tạo xã hội của Người, chúng ta càng hiểu hơn tấm lòng và ý nguyện cao cả của vị lãnh tụ. Hồ Chí Minh từng viết: “Không, đó không phải là những chuyện cười, đó là những chuyện thật. Những chuyện thật đau lòng”. Nỗi đau ấy luôn xuất phát từ khát vọng làm cho từng con người ngày một tốt hơn, và cuộc đời này ngày một đẹp hơn.

 


(*) Tư liệu sử dụng trong bài viết này được rút ra từ hai cuốn “Hồ Chí Minh toàn tập” (I và II - Nxb Sự thật - 1980) và cuốn “Về văn hóa văn nghệ” (Nxb Văn hóa - 1976).