Thể loại "Chân dung và đối thoại" của Trần Đăng Khoa

        Chân dung và đối thoại” bao gồm 23 bài viết. Trừ bài “Nguyễn Văn Chộp” ra, những bài viết khác ít nhiều đề cập tới các hiện tượng, các vấn đề văn chương Việt Nam hiện đại và đương đại. Tập sách được Trần Đăng Khoa sáng tác ở thể loại nào? Đã có hai cách quan niệm:

1- Chẳng cần xác định làm gì!. “Thôi, ta cứ gọi là cuốn sách” như Tim Obrien nghĩ về tác phẩm “Những gì họ đã mang theo” của mình vậy. Cái duy nhất còn lại là xem nó có hay, có bổ ích hay không?

2- Rất cần được xác định nếu muốn xem xét giá trị của tập sách. Thử hỏi sẽ dựa vào đâu để đánh giá tác phẩm khi không biết chủ nhà định đãi ta món gì, cơm hay phở?

Tôi nghiêng về quan niệm sau, nhất là nếu ta có ý định phê bình tập sách. Vậy Trần Đăng Khoa sử dụng thể loại văn chương nào? Có người bảo đó là văn xuôi. Từ này chưa nói lên được gì cả. Văn xuôi (đối lập với văn vần) mới là thể văn chứ không phải là loại hình hay thể tài văn chương. Trong Tạp chí Văn số Xuân Kỷ Mão (tháng 1,2 –1999) có đăng ý kiến của Lê Quý Kỳ. Sau khi băn khoăn tự hỏi Chân dung và đối thoại thuộc thể loại nào, tác giả đã đi tới khẳng định: Đó là “văn xuôi viết về người thật việc thật! Nó là truyện ký hay bút ký gì đó. Bút ký có lẽ đúng… hơn” (tr.145). Kết luận chưa thể làm chúng ta hài lòng bởi hai lẽ:

1- Trần Đăng Khoa gọi sản phẩm mới của mình là “bình luận văn chương”. Tôi chưa thấy chất “bình luận” trong tên gọi “bút ký”.

2- Nếu bảo tập sách là bút ký viết về người thật việc thật ở đây là nhà văn và nghề văn vậy sao có thể xem Trần Đăng Khoa đã làm công việc phê bình văn chương (dẫu là “phê bình nói”) như quan niệm sau đó của tác giả được?

Trong lịch sử văn chương đã từng có nhiều trường hợp bị nhòe về ranh giới thể loại. “Cuộc đời Arxênhép” của văn hào Bunin là một ví dụ. Pautovxki gọi nó là “truyện vừa” nhưng rồi ngay sau đấy lại viết: “Điều đó tất nhiên là không đúng, đây không phải là truyện vừa, không phải là tiểu thuyết, không phải là truyện ngắn. Đây là một tác phẩm thuộc một thể lọai chưa từng được gọi tên… Trong sách đó, thơ và văn xuôi đã nhập hòa làm một, nhập hòa một cách hữu cơ để tạo ra một thể loại mới tuyệt vời” (Một mình với mùa thu, tr.113). Nhận xét của Pautovxki chứa đựng nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó xác nhận sự thâm nhập của nhiều loại hình và thể tài văn chương khác nhau trong một tác phẩm. Sau nữa, nó cho thấy đặc thù của lao động sáng tạo ở nhà văn. Anh ta ấp ủ những dự đồ nghệ thuật. Anh ta thể hiện nó sao cho nổi bật và ám ảnh. Bằng mọi cách có thể, không hề gò bó và câu nệ bởi những định ước có sẵn. Sản phẩm thành hình thuộc loại nào, thể nào, nhà văn không quan tâm nhiều lắm đâu. Đó là công việc kế sau của các nhà lý luận và phê bình.

Do vậy, ta hoàn toàn có thể hiểu được tâm trạng bức bối, chẳng hạn, của nhà văn Ôvetxkin khi có nhà phê bình gọi “Chuyện thường ngày ở huyện” của ông là ký chép từ việc thật, người thật:”Nguời ta đẩy chúng tôi đi tìm những hình thức mới, những thể loại mới. Thế mà khi chúng tôi đi tìm được chúng, thì các nhà nghiên cứu văn học lại không tìm được những thuật ngữ mới” (Nhà văn bàn về nghề văn, tr 220). Tôi nói ta hoàn toàn có thể cảm thông với sự trách cứ các nhà lý luận của Ôvetxkin, tuy nhiên ở đây vẫn có điều gì không thật thỏa đáng cho lắm. Thực tiễn sáng tạo văn chương là vô cùng tận. Nhà lý luận dù tài ba đến mấy cũng chỉ khái quát được những nguyên lý cơ bản từ những hiện tượng tiêu biểu. Trên những đường hướng chung ấy, khi tìm hiểu, thẩm định tác phẩm, bạn đọc và giới phê bình phải vân dụng sao cho sát hợp và hiệu quả. Không thể tồn tại kiểu mẫu chung cho mọi trường hợp. Bởi vậy, một đòi hỏi tương tự là không thực tế.

Bây giờ ta cùng dừng lại ở trường hợp “Chân dung và đối thoại” của Trần Đăng Khoa. Anh gọi tập sách là “bình luận văn chương”. Đó là một trong những cơ sở gợi ý cho ta hình dung về thể loại của tập sách. Rõ ràng tính “bình luận” ở đây khá nổi. Anh đưa ra những nhận xét của bản thân về nhiều hiện tượng văn chương (thơ như “Hoan hô chiến sỹ Điện Biên”, “Tiếng thu”…, tiểu thuyết như “Thời xa vắng”, “Mảnh đất lắm người nhiều ma”…; nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi…; nhà thơ như Xuân Diệu, Chế Lan Viên… ; Giải thưởng văn học như Giải thưởng của Hội Nhà văn, Giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội…). Tuy nhiên đó là lối “bình luận” của người nghệ sỹ chứ không phải của nhà phê bình. Anh cũng thừa nhận như vậy: “Việc bình cuộc tranh luận này, tôi xin nhường các nhà chính hiệu. Tôi là người ngoại đạo chầu rìa cánh gà, nghe ngóng và chiêm ngưỡng các nhà tranh luận biểu diễn là chủ yếu” (tr.192). Tôi thấy thái độ như thế là chân thành và đúng mực. Và xin hãy lấy lối phê bình trực cảm nặng tính chủ quan của Trần Đăng Khoa để đánh giá tập sách. Cái hay cái dở cũng ở trong phạm vi này. Đây “là một thứ tạp văn, có bình, có phỏng vấn, lại phẩy vài nét ký họa chân dung. Tóm lại, nó là một bài báo thuần túy, có tráng một tý văn chương” (tr.191). Không phải vô cớ người đọc bị giọng văn đầy ma lực của anh cuốn vào. Nói tới giọng văn là nói tới cá tính –một trong những dấu hiệu nổi trội của một công trình văn chương đích thực.

Đọc “Chân dung và đối thoại”, tôi thường liên tưởng đến Raxun Gamzatôp với “Đaghextan của tôi”. Và nếu được hỏi về thể loại của tập sách mới của mình có lẽ Trần Đăng Khoa cũng sẽ học Raxun Gamratôp mà nói rằng: “Các bạn cứ việc gọi tùy thích những gì tôi đã viết. Tôi không viết theo những quy cách sách vở đã định, mà chỉ viết theo chỉ dẫn của trái tim, trái tim không có quy cách. Nói đúng hơn là nó có riêng những quy cách không phải bao giờ cũng thích hợp với người khác” (Đaghexan của tôi, tr.125). Về phần mình, tôi cũng xin nhắc lại ý của Raxun Gamzatôp: Hãy để cho mọi người ngồi vào bàn ăn tự đánh giá dở ngon.

                                                                                                  Đà Lạt, 10/4/99