Nhà sáng tác và nhà phê bình trong "Di cảo thơ" Chế Lan Viên

Sáng tác và phê bình là vấn đề ngàn đời của đời sống văn chương. Đã có sáng tác là có phê bình, mà đã có sáng tác, phê bình thì có sự khác biệt thậm chí đối lập. Đó là cặp âm dương song hảnh của cái sự sống văn chương làm nên sự tồn tại và cả sự tiến triển nữa của chính sự sống này.

Không lấy làm lạ khi giới sáng tác và phê bình hầu như khó ngồi cạnh nhau. Xưa đã thế mà nay cũng vậy. Và cái ý định lấp đầy khoảng cách giữa họ có thể xem là không tưởng. Một tài năng lớn như Volte cũng đã có lúc dồn tất cả nỗi bực dọc của mình vào câu chuyện về nhà phê bình Giăng nọ. Ông kể rằng ở chân núi kia một hôm nhà phê bình của chúng ta bị con rắn rất độc cắn. Chuyện gì đã xảy ra? Nhà phê bình không chết còn con rắn thì lập tức ngắc ngoải. Đấy là chuyện ở nước ngoài. Còn ở ta? Năm 1973 khi trả lời tạp chí phỏng vấn Tạp chí văn học, nhà thơ “hiền lành” vào bậc nhất trong các nhà thơ hiện đại – Tế Hanh đã hóm hỉnh viết như sau về các bài phê bình thơ mình: Nói chung các ý kiến đều chưa có gì thỏa đáng, khen hơi quá, chê còn quá hơn. Còn nhà thơ “lục bát” cũng vào bậc nhất nhì hiện nay – anh Nguyễn Duy thì viết không phải với hình thức chính luận mà bằng thơ:

Lăm le cái thước phàm trần

Để đo kích thước thánh thần, em ơi!

Tôi muốn thay các từ “em ơi” bằng cặp từ “lạ chưa”. Anh Nguyễn Duy không đồng ý. Té ra, các nhà thơ già cũng như trẻ đều hóm lắm, mỗi anh mỗi kiểu.

Đả là vấn đề muôn thuở “khổ lắm, nói mãi” thì có gì đáng nói ở đây? Ai cũng biết Chế Lan Viên không chỉ là một nhà thơ lớn, mà còn là nhà phê bình sắc sảo, nhà lý luận độc đáo nữa. Cố nhiên, các lĩnh vực này thống nhất trong con người Anh, làm nên cái hài hòa trong sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của Anh. Vậy lẽ ra Anh phải là người ít thấy cái xung khắc muôn đời kia chứ! Nói khác đi, anh phải là người dung hòa được hai cái cực ấy chứ! Trong Di cảo không thấy lấp ló điều này mà sáng tỏ một điều khác hẳn: Anh lại lớn tiếng với giới phê bình, có lúc không thể nói là không gay gắt, thậm chí còn hằn học nữa. Nghĩ đến lúc “từ thế”, trong bài “Để lại”, Anh đặt một câu hỏi chua chát:

Liệm cho anh triết học để làm gì?

Thế nhưng không đâu mạnh mẽ, thẳng thừng như trong bài  Sợ nhất”. Nhà thơ hình dung ra cái địa ngục “bên vạc dầu của quỷ” khi thi nhân “chạm trán, va đầu”, nhất là:

Nếu bên vạc dầu có nhà phê bình cầm roi càng nguy hiểm hơn nữa.

Dẫu nhà thơ có chạy trốn đi thì phê bình gia cũng tóm cổ ném vào!

Đã có lần, cũng vào năm 1987, Chế Lan Viên trả lời bạn đọc báo Tuổi trẻ rằng: “Ở ta thì có cái chuyện có thời gian dài các nhà phê bình thích gọi phê bình là con roi và quất luôn luôn. Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Hà Minh Tuân, Nguyễn Thành Long, Dũng Hiệp, Phạm Tiến Duật... đều bị quất. Vợ tôi với một truyện ngắn “Con mèo” cũng bị vài roi quất oan”. Thường là “đánh không cho cãi lại”. Cho nên khi cần mơ ước, Chế Lan Viên mới “mơ cái ngày có nhà phê bình gặp thi sĩ thiên tài liền ôm và khóc”. Hình như trong đáy sâu tâm khảm, nhà sáng tác Chế Lan Viên không thật tin ước nguyện của mình lại thành hiện thực nên kết thúc bài thơ mang tựa đề “Phê bình” ấy, Chế Lan Viên không khỏi cám cảnh:

Ồ, lẽ ra mơ được tái bản, được nhiều tiền nhuận bút.

Sao ở thế kỷ 20, anh còn mơ giấc mơ hoang sơ điên dại thuở hư huyền!

Viết đến vậy thì chắc không chỉ đau nỗi đau của người mà là đau nỗi đau của chính mình. Quả có thế thật! Không chút quanh co, trong bài “Vết thương”, Anh viết:

Họ nhắm bắn vào tên mình, bóng mình, bài sách mình mỗi khi mình xuất hiện.

Tự biết mình, Chế Lan Viên có lần bộc bạch trong bài thơ “Gửi Trạng Thông họ Hoàng”:

Ông thì hay say,

Tôi thì quá tỉnh

Mà ông đầm tính,

Tôi thì hay gây.

Bão có cớ nổi lên. Mà có lẽ trăm nghìn cơn bão đổ xuống đời Anh có cơn bão dấy lên từ tọa độluôn nóng bỏng bởi những luồng gió trái ngược nhau này.

Những cơn bão từ đâu trút tai ương vào Lôi Châu bán đảo đời anh

(Bão)

Từ đâu ư? Thật khó biết, vì thật khó thấy. Cái tọa độ văn chương nghệ thuật ấy, cao cả đến tột cùng là nó mà thấp hèn đến “là là ngọn cỏ” cũng chính là nó. Đường đột đến gieo tai họa. Và cái cơn bão ấy nếu đi qua thì để lại cảnh chiến trường ngổn ngang xơ xác đến hãi hùng trong lòng người nghệ sĩ vốn được trời phú cho cái tâm hồn vô cùng phong phú và cực kỳ nhạy cảm. Cho nên đến tài năng “kềnh càng” như Chế Lan Viên đôi khi cũng phải “co mình” đến mức e dè tội nghiệp.

Đến soi bóng mình trong suối, trong hồ, anh cũng ngại chạm rong rêu.

(Cẩn thận)

Biết đâu cái cặp sừng hươu vốn là “báu vật” của người nghệ sĩ cứ bị gọt dần đi cho bớt “kềnh càng” vướng víu. Để rồi đến một lúc nào đó cái bi kịch lớn nhất của người nghệ sĩ giáng xuống đầu anh:

Anh đóng giỏi trăm vai, lại đánh mất mình.

(Thơ về thơ)

Không đúng vậy sao? Cái bản ngã trong văn chương là quý nhất. Nói như văn hào M. Gorki: “Khi anh không có cái gì của riêng mình nghĩa là anh không có lý do gì cả”. Cần nói thêm, nghĩa là anh không tồn tại trong cái địa hạt văn chương vốn trọng vẻ độc đáo riêng biệt này.

Vậy đã rõ là Chế Lan Viên không mấy hài lòng với giới phê bình. Nhưng đây mới chỉ đúng một nửa. Hơn thế, nửa này cũng còn không đúng nữa nếu nhìn ở góc độ khác: Chế Lan Viên bất bình với chữ “triết” nào? Trong bài “Cây bàng”, Anh chân tình giải bày:

Anh yêu cây bàng trụi lá mùa đông

Khi chỉ còn cốt lõi

Để lại những thân cây bàng triết học

Một nền triết học sẵn sàng nẩy lộc

Sẵn sàng thơ

Xanh nuột lúc xuân về.

Vậy đấy, Chế Lan Viên chỉ không ưa cái “lý thuyết xám ngắt” mà thôi. Còn cái “nền triết học sẵn sàng nảy lộc” thì hữu ích lắm chứ. Không được xem thường đã đành. Còn cần được trọng vọng nữa. Ấy là nói tới giới sáng tác nói chung. Liệu có nhà văn lớn nào trên đời lại sáng tác một cách “kinh nghiệm”, thiếu sự chỉ đạo của lý luận, của một thứ “minh triết” từ đời mà ra để quay lại soi sáng cho đời! Đúng vậy, chỉ có thứ triết lý sống động ấy mới có ý nghĩa. Còn cái thứ triết “ngỡ như nhờ anh mà cỏ mọc, nhờ anh mà trái rơi” (Triết – một) thì không chỉ không có lợi mà còn có hại nữa. Các nhà sáng tác hãi hùng không phải vô cớ.

Bể không làm triết học

Chính ta vô công ở chỗ bể hồn nhiên, ta chẻ sợi tóc ra phiền phức.

(Triết của bể)

Càng đọc càng hiểu Chế Lan Viên ta càng thấy Anh có lý. Đó mới chỉ là một trong hàng trăm, hàng ngàn cái lý sáng suốt, cái lý sống động mà Anh để lại cho đời. Di sản Chế Lan Viên thật

 lớn lắm thay! Anh là một trong những núi Thái Sơn của văn chương và rộng ra của văn hóa Việt Nam thời hiện đại có lẽ là theo nghĩa này chăng?