Nữ sỹ Tương Phố với phong trào "Nữ lưu và văn học" đầu thế kỷ XX

        Trong nửa đầu thế kỷ XX, cùng với sự biến chuyển sâu xa và sôi động về xã hội và về tư tưởng, đã xuất hiện trên thực tế, phong trào “ Nữ lưu văn học”. Tên tuổi của nữ sĩ Tương Phố gắn liền với phong trào này. Thế hệ nữ văn sỹ có thể xem là trước bà gồm có Mai Am (1826 - 1904), Sương Nguyệt Anh (1864 - 1921), Đạm Phương (1881 - 1948), Sầm Phố (1885 - 1975), Trần Ngọc Lầu… Cùng thời với bà có thể kể đến: Cao Thị Nhuỵ, Nhàn Khanh, Như Không, Bà Bang Nhãn…Thế hệ sau bà một chút là Vân Đài (1903 - 1964), Hằng Phương (1908 -1983), Mộng Sơn (1920 - 1992), Thu Hồng (1922 - 1948), Nguyễn Thị Manh Manh, T.T.Kh, Mộng Tuyết… Trên diễn đàn báo chí và sau đó là trên lĩnh vực xuất bản các sáng tác văn chương của phụ nữ khắp Trung - Nam – Bắc đã tạo nên một mảng riêng, độc đáo, đóng góp xứng đáng vào bức tranh văn chương chung của dân tộc của nửa đầu thế kỷ XX.

            Như vậy ta biết, con đường sáng tạo của nữ sĩ Tương Phố còn kéo dài sang nửa sau thế kỷ XX, nhưng có thể nói, những tác phẩm đáng kể nhất, gây ấn tượng nhất được bà viết vào những năm 20 và 30. Đó là các tác phẩm : Giọt lệ thu (viết năm 1923, in năm 1928), Một giấc mộng (truyện,1928), Mối thương tâm của người bạn gái ( văn xuôi,1928), Bức thư rơi (văn xuôi,1929), Tái tiếu sầu ngâm (thơ lục bát, 1930 ), Khúc thu hận (thơ song thất lục bát, 1931)…. Đứng ở hàng đầu các tác phẩm đó chính là Giọt lệ thu. Tôi hoàn toàn tán đồng với đánh giá của Bùi Xuân Uyên trong lời tựa Mưa gió sông Tương rằng : “ Giọt lệ thu năm nào đã thấm trong văn học sử. Cái tên của Tương Phố đã đóng dấu một nỗi buồn và cũng chính điều đó khiến thơ Bà có sức rung cảm sâu xa trong nỗi niềm nhiều độc giả” (chuyển dẫn). Nói khác đi, Giọt lệ thu là tác phẩm tiêu biểu nhất của Tương Phố tập trung thể hiện những đóng góp của bà trên lĩnh vực văn chương. Còn nhớ, trên “ Phụ nữ tân văn”, số 131, ngày 26 tháng 05, 1932, Nguyễn Thị Manh Manh – người luôn nhiệt thành cổ vũ cho phong trào “ Nữ lưu và văn học”, đã không kìm được sự sùng bái của mình khi nhắc tới Giọt lệ thu… “ thiệt là tình thâm, giọng thiết, phi ngọn bút đàn bà không lấy đâu được lời văn thống thiết như thế, và nếu không phải đàn bà về hạng cao đẳng thì cũng lấy đâu được cái tình cảm nặng nề như kia” (chuyển dẫn).

            Vì sao Giọt lệ thu lại có tiếng vang xa và lâu trong lòng bạn đọc thuộc nhiều thế hệ, nhiếu tầng lớp như vậy? Theo tôi, có ba nguyên do chính sau đây :

1.   Mặc dầu là nỗi lòng riêng tây (nỗi buồn nhớ khi xa chồng, nỗi đau xót khi đột ngột mất chồng…), Giọt lệ thu đã tìm được sự đồng điệu của nỗi buồn đau mang tính thời đại. Thời bấy giờ, nổi tiếng trên văn đàn và ba động mạnh vào đời sống xã hội là những Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc, Bể thảm của Đoàn Như Khuê…Riêng trong giới nữ, thế hệ trước Tương Phố, có thể kể đến Tân chinh phụ thán (Tiếng than của người chinh phụ mới) của Sương Nguyệt Anh. Cùng thế hệ với Tương Phố có  Khóc chị của Như Không, Văn tế chồng của Cao Thị Nhụy. Thế hệ sau bà, ta được nghe tiếng nói cô đơn trước cuộc đời : “U ám gió mưa nhan nhản gặp” (Tìm bạn) của Vân Đài, hay lời Vọng phu : “Buồm thuận cánh chàng đi…đi biệt/ Gió đong đưa than tiếc ngày yêu” của Mộng Sơn… Không phải vô cớ mà vào thời ấy và mãi nhiều năm sau, người ta còn nhắc tới tiếng khóc vợ của Đông Hồ trong Linh Phượng ký và tiếng khóc chồng của Tương Phố trong  Giọt lệ thu. Bạn đọc thật sự bị ám ảnh bởi những câu văn thống thiết này : “ Riêng em trong cảnh phòng không chiếc bóng, tủi mình đầu xanh lẻ bạn, giữa đường lạc duyên cho nên trông trăng những nhớ trăng xưa, thấy thu lại tưởng thu này năm nao, mà rồi châu lệ dạt dào, tấc dạ cũng thê lương, lòng riêng không còn một cảnh vui nào để cho mình ước hẹn với thu. Người buồn lại gặp cảnh thu, sầu riêng trăm mối bao giờ gỡ xong!”.

2.  Giọt lệ thu là nỗi lòng chân tình và bi thiết của cái tôi cá nhân, cá thể. Tôi cứ nghĩ trong văn chương muốn được người đọc chia sẻ, cảm thông, người viết phải chân thành, chân tình đến cùng. Phải nói nữ sĩ Tương Phố đã đạt được điều đó khi đắm mình để viết Giọt lệ thu. Trong nhiều dòng, ta không còn thấy câu chữ, hình ảnh mà chỉ thấy một trái tim hồng đang khoắc khoải đau đớn : “ Con anh măng sữa, em còn thơ ngây, cuộc đời trăm đắng nghìn cay, trông vào ai, cậy vào ai? Đường gian nan chân chồn bước ngại, tới lui là dở, nắng mưa dễ bước lánh vào đâu!”. Đó là những câu hỏi, những lời than tự nhiên buông ra tự đáy sâu của cõi lòng – lại là cõi buồn đến não nuột, đau đến tột cùng :

Sầu thu nặng, lệ thu đầy,

Vì lau san sát hơi may lạnh lùng.

Ngổn ngang trăm mối bên lòng,

Ai đem thu cảnh bạn cùng thu tâm!

            Đó là tiếng lòng bi thiết, bi thương khi tình cảm của người viết luôn ở cung bậc cao nhất. Ơ đây, Tương Phố có phần khác vời Nhàn Khanh – người thơ cùng thời với bà. Hãy đọc một đoạn trong bài Tự tình của Nhàn Khanh.

                                    Hoàng – anh gió mát trăng thanh,

                                    Tiên – hoa mượn bút tả tình làm khuây.

                                    Nương dâu bãi bể ai bày,

                                    Hồng quần sao khéo đoạ đày hồng nhan ?

            Đoạn thơ bảo hay thì cũng thật là hay nhưng chưa làm người đọc nao lòng như khi đọc Tương Phố.

            Điều này có liên quan mật thiết tới tiếng nói cá nhân, cá thể của Giọt lệ thu. Phải nói rằng, Tương Phố đã đi từ nỗi buồn đau riêng để đến được với mọi người.

                                    Trời thu ảm đạm một màu,

Gió thu heo hắt thêm sầu lòng em.

Trăng thu bóng ngả bên thềm,

Tình thu ai để duyên em bẽ bàng.

            Có thể, đoạn thơ phải nói là khá điệu nghệ này, cái riêng  tây bộc lộ chưa thật rõ. Nhưng đoạn văn sau thì chắc không ai còn hoài nghi về sự tồn tại của cái tôi : “Con còn trong cữ  chưa se rốn, vợ qua bể cạn chưa hoàn hồn, anh đã vội vàng dứt áo ra đi. Oi! Ra đi nào phải đi gần, dặm đường Âu Mỹ ngàn trùng nước non. Buổi tiễn đưa nhìn anh thôi lại nhìn con, chén quan hà những uống lệ mà cay!…”. Tôi thấy, câu chữ cổ như được nới rộng ra để cho tiếng nói cá nhân tự do lên tiếng. Vì vậy, nếu ta có thể xem Tương Phố đã góp một tiếng đàn dạo đầu trong “ cuộc hòa nhạc tân kỳ đang sắp sửa” của Thơ Mới lãng mạn ngay thập kỷ sau Giọt lệ thu cũng là thỏa đáng!

3. Văn của Giọt lệ thu quả thật còn mang dấu ấn khá sâu nặng của văn biền ngẫu nhưng phải nói là đã khá uyển chuyển và khá mới mẻ. Về vấn đề này , tôi xin bày tỏ sự tán đồng với nhận xét sau của GS. Lê Chí Dũng : “ Văn xuôi của Tản Đà, Tương Phố, Đông Hồ, Hoàng Ngọc Phách….giàu tính nhạc, xen lẫn với thơ, hồi ấy được coi là hay, giúp người ta làm quen với văn xuôi và thừa nhận văn xuôi cũng là văn chương…” (LangBian, số 8, 12/1995). Xin hãy đọc một đoạn bất kỳ của Giọt lệ thu : “ Anh ơi! Chung cảnh thu này, đông tây nam bắc biết bao người cảm thụ. Nhưng lòng thu ai hẳn có như em, mà mây chiều vấn dạ, gió mai lạnh lòng. Như em một hạt sương gieo là một lệ thảm, một làn lá rụng là một mảnh tình sầu. Thu càng thảm, sầu càng nặng”. Và cũng xin nhớ lại một nữ sĩ  cùng thời với bà – Cao Thị Nhuỵ, vẫn phải nhờ cậy đến thể văn tế để khóc chồng. Biết vậy để thêm trân trọng Tương Phố, để có thể hiểu được vì căn cớ gì mà một người “chỉ thích cao ngạo ngân nga những bài thơ Tây, những tản văn Pháp, không bao giờ để ý tới một bài thơ Quốc âm sáo hết sức… gò ép mất cả tự nhiên”, nhưng khi đọc xong Giọt lệ thu đã chợt “nhận thấy thơ văn Việt Nam không đến nỗi xoàng như tôi đã hiểu lầm và tôi đã bắt đầu nghiên cứu Quốc văn” (Cảm đề Giọt lệ thu, Nam Chi tùng thư – Sài Gòn, 1967 – chuyển dẫn).

       Từ tất cả những gì đã trình bày, tôi xin đưa ra một kết luận chung : đóng góp của nữ sĩ Tương Phố chủ yếu ở địa hạt văn chương, trong đó Giọt lệ thu là một trong những dấu ấn khó phai mờ trong lịch sử văn chương dân tộc ở thập niên thứ 3 của thế kỷ XX như là tiếng kêu réo rắt, bi thiết của cá nhân con người hòa trong không khí buồn đau chung của thời đại, góp phần báo hiệu “ một thời đại mới trong thi ca” dân tộc – thời đại của Thơ mới lãng mạn với những tên tuổi sáng chói như : Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…