Lại đọc "Di cảo thơ" Chế Lan Viên

Di cảo thơ Chế Lan Viên không chỉ có các sáng tác vào những năm cuối đời. Tuy nhiên, nhiều bài thơ viết trong vòng hai năm 1987-1988 có vị trí đặc biệt đáng được lưu tâm. Ấy là do chúng được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt: nhà thơ tuổi cao, bệnh lại nặng. Chỉ một năm, trong cái “mùa bệnh” 1988 ấy, hơn một lần Chế Lan Viên giãi bày: Biết rồi đêm đến xóa – Tôi vẫn bôi sắc màu (Trò chơi), rồi: Tôi tài năng chưa đầy nửa giọt – Sao chỉ ấy kim kia tôi vẫn phải cầm (Xâu kim).

Khối lượng tác phẩm trong vòng hai năm ấy khiến ta kinh ngạc: 160 bài gồm cả những bài thơ đã được hoàn thiện và những bài còn ở dạng phác thảo, trong đó có 16 bài được ấp ủ từ nhiều năm trước. Cái nghiệp văn chương thường cay nghiệt, trắc trở hơn là xuôi gió thuận buồm. Ai đã chấp nhận thì phải chịu đánh đổi, phải đem cả cuộc đời buồn vui, sướng khổ của mình ra mà đánh đổi.

Nhà thơ ý thức được không phải từng giờ mà từng phút, từng giây cái “buổi mai chót, hay buổi chiều chót hay đêm khuya chót đời anh sắp “tuột” khỏi tay anh tất cả”. Là người sống có trách nhiệm với đời, anh ko cho phép bản thân nhừng nghỉ:

Thời hạn đi tìm của anh đã hết rồi mà bờ bến tít mù xa

Nhưng dừng lại anh đâu còn anh nữa

(Tìm thơ)

Có điều, lao động nghệ thuật vốn tuân theo những quy luật riêng. Phải làm việc cật lực, cố nhiên, như những nghề khác, hơn những nghề khác:

Anh hì hục dậy trước gà và ngủ sau ánh lửa đèn cạn dầu cháy bấc đêm đêm.

(Uồng công)

Đã đọc nhiều câu thơ triết lý về nỗi cay cực đổ mồ hôi sôi nước mắt của nghề văn nghề thơ, tôi vẫn thích thú những câu “lý sự” rất “lý” mà cũng rất “sự” này của Chế Lan Viên:

Nghìn lẻ một câu viết ra,

Người ta quên cả một nghìn

May lả một có người còn nhớ đời, nhớ mãi

Nhưng:

Đã nghìn câu đâu mong lẻ nỗi gì?

(Nghìn lẻ - Bài 1)

Đường đột nên thú vị, càng ngẫm càng thấy thấm. Đó là sự cảm nhận, hơn thế là sự thể nghiệm của cả một đời thơ. Tuy sự khác biết của lao động thi ca mới thật đáng nói. Có lẽ không có thứ lao động nào khác trên đời lại mang tính cá thể như lao động nghệ thuật:

Tất cả phải tự lấy mình ra che chở

(Bộ ba)

Cao hơn và xa hơn:

Anh phải tự làm hoa tiêu lấy chính mình qua bão dông sấm chớp

(Sân bay)

Định hướng sáng tạo vốn quan trọng hơn nhiều. Người khác có thể gợi hướng cho anh. Nhưng anh chứ không phải ai khác phải “bay theo đường dân tộc đang bay”. Bởi thế không lạ trước cái lạ này của nghề thơ: Luôn đòi hỏi sự chân thật đến cùng. Và Chế Lan Viên đã chân thật. Chỉ cần vô tình đặt câu hỏi “ích gì?” là tự nhiên đi vào tắc lối cùng đường. Cảm hứng sáng tạo cứ cạn dần rồi biến mất. Chế Lan Viên viết rất đúng rằng cái nghề thơ “chỉ thôi yêu là nó chết”. Tai họa sẽ gieo xuống thơ anh, người đọc sẽ ngoảnh mặt lại anh nếu “hồn anh cạn nước”. Đòi hỏi cảm xúc trong sáng tạo văn chương là vô cùng. Chìa khóa của mọi thành công một phần quan trọng là nằm ở đây. Mọi lý lẽ dẫu cao xa vẫn không có chỗ đứng trong thơ, trong văn nếu thuần lý, thuần lẽ. Mà lại phải hồn nhiên, thật hồn nhiên. Văn chương là “đóng kịch”, nhưng là để nói những điều “rất thật”. Thế mà văn chương đâu chỉ đòi hỏi có vậy. Cái đích sáng tạo luôn cụ thể, độc đáo, không lặp lại. Kinh nghiệm nhiều lắm chỉ giúp anh đường đi chứ không thể giúp anh ra ngay được kết quả. Mỗi lúc một khác, mỗi nơi một khác. Cuộc đời vốn đa sắc đa màu. Cuộc đời lại luôn vận động và biến chuyển. Sáng tạo không phải là “săn bất cứ con nào” mà “con ấy, con ấy...”

Những ấy ấy, kia kia làm khổ một đời

(Ấy... Ấy)

Đây là cái khó chung đối với mọi người. Riêng với Chế Lan Viên trong những năm cuối đời thử thách lại càng nhiều càng lớn. Nhà thờ rõ ràng có bị ám ảnh bởi sự hủy diệt, bởi cái chết. Nhiều người bạn thơ cùng thế hệ lần lượt ra đi.

Sống chết, sống chết...

Hai từ ấy như thoi reo, lục dệt

(Gió lật lá sen hồ)

Nhà thơ hối hả sống, hối hả viết hơn lúc nào. Chế Lan Viên ý thức được rất rõ từng giây phút của cuộc đời mình đang trôi và cái mút cuối cùng của sự sống đang đến dần.

Đã gần hết thời gian của tôi ở trên trái đất

(Tìm đường)

Vốn là một người luôn quý trọng sự sống, lại sống rất có trách nhiệm với mình, với đời, cảm giác chới với khi đối mặt với cái chết là có thật và dễ hiểu:

Anh như gõ kiến

Gõ vào thời gian

Gõ vào số phận...

Tháng ngày không kịp nữa

(Hóa)

Trước đây không phải Chế Lan Viên không sống khẩn trương, không từng chạy đua với thời gian, với năm tháng. Nhưng giờ thì có khác, nhà thơ nghiêng về sự đòi hỏi thể hiện mình, tự khẳng định mình, là để chứng tỏ là mình đang sống. Do bệnh tật hoành hành, có lúc Chế Lan Viên – Con người lịm đi, thiếu tỉnh táo, nhưng khi cầm bút, Chế Lan Viên – Nhà thơ ít khi không minh mẫn. Trong bài Đọc hai tập di cảo thơ, Nguyễn Bá Thành cho rằng: “Phảng phất trong những câu thơ đó đây có lòng yêu đời, yêu người và những suy nghĩ biện chứng lúc nhà thơ tỉnh táo”. Có phải những bài thơ phần nhiều là tiêu cực khác, được viết trong lúc nhà thơ không tỉnh táo? Xin hãy đọc những vần thơ cuối cùng của anh. Ta có bắt gặp cảm giác cô đơn khi một mình năm trên giường bệnh, khi từng phút phải đối diện với chính mình. Những lúc ấy bao kỷ niệm sống dậy. Cuộc đời trải qua những thước phim lướt nhanh. Quay về dĩ vãng, nhà thơ của chúng ta không khỏi hoài nghi:

Mà ngẫm lại cuộc đời

Quá đỗi phù du

(Kiều)

Rất nhiều lần, câu nói bi lụy từ ngàn xưa “thân cát bụi lại trở về với cát bụi” vang lên trong tâm khảm nhà thơ. Con người chỉ là một hạt bụi, hạt bụi nhỏ nhoi, hạt bụi vô danh “dẫu có chói lọi tuổi tên thì cũng lụi bên trời trong ngày hội phù hoa” (Học tập lẫn nhau). Lại trở về với câu hỏi từng day dứt nhà thơ năm mươi năm trước: “Ta là ai?” Một người đang biết mình đang đứng nơi giáp ranh giữa cái sống và cái chết, có một tâm trạng như thế cũng là bình thường, là dễ hiểu. Nếu trách nhà thơ trong bài Từ thế chỉ ca thấy mình “thành một nhúm xương gio trong bình” thì thật là vô lối quá. Nói gì thì nói, nghệ sĩ cũng chỉ là một con người như bao người khác, hơn bao giờ khác. Có cái thượng, rất cao thượng, lại cũng có thể có những cái tầm thường, cả những cái xấu xa nữa:

Anh tội lỗi, dại khờ, ngu si, bướng bỉnh

Anh là kẻ rất thấp mà, là chổi thôi mà

(Làm sao)

Đấy là chưa kể tới cái nguy cơ có thể đẩy con người tới những suy nghĩ và hành vi để tự cảm thấy đó là nhục nhã, hổ thẹn.

Thế mà còn phải đánh nhau với nghìn sự đê hèn

Làm đầu anh lụt bấc

(Lệ Ngọc)

Ai dám bảo “cuộc chiến” trong tâm hồn người là ngả nghiêng dao động, là tiểu tư sản? Chỉ có thiên thần mới hoàn toàn trinh trắng, thánh thiện. Họ chỉ đáng ngưỡng vọng chứ không đáng khâm phục. Nhà thơ đã diễn tả rất chân thực sự xung đột gay gắt trên trận địa lòng mình ngay nới giường bệnh. Anh gọi đó là “cuộc chiến tranh màu trắng của tâm hồn”. Vậy là ta dễ tán đồng Chế Lan Viên khi nhà thơ thẳng thắn đặt câu hỏi:

Con sâu của bi kịch cá nhân gặm thịt ta làm ta nhục nhã

Và cởi bỏ hết bi kịch, thành vị thánh cao cả

Đằng nào hơn?

(Tượng đá)

Có thể nói, với tất cả những sai sót, cả sự nhầm lẫn nữa, Chế Lan Viên – Nhà thơ không khi nào rơi vào tuyệt vọng đến mức xuôi tay chán chường. Đây đó ta có nghe rõ những lời trấn an, mình nhủ mình để đứng vững, để tồn tại. Đừng tuyệt vọng được viết ra chủ yếu từ mục đích này:

Từ đây xuống mồ

Còn chán thì giờ

Cho anh sống

Miễn anh đừng tuyệt vọng

Nhưng dẫu thế nào cái chết vẫn nằm kề bên, vẫn đi song hành, khó thoát khỏi nó. Đó là lý do khiến một số câu thơ không khỏi gượng gạo và không thật thuyết phục. Có phần khó tin vào lời khẳng định sau:

Sống là điều đáng sống

(Ngôi đền lãng quên)

Và cả câu thơ gân guốc này nữa:

Cho nên đau thì đau, mà ca cứ vui ca

(Về đồng)

Không phải đến lúc này Chế Lan Viên mới bị bệnh tật hành hạ. Nhưng lúc này là lúc gay go nhất. Ta thấy Anh có phần chủ động điềm tĩnh đón chờ cái chết đang nhích lại gần. Tháng 12-1987, anh quả quyết: “Tôi cùng thế kỷ này già như nhau, tôi chết trước” (Đoạn cuối thế kỷ). Và sau đó chừng một năm, tháng 11-1988, anh nhắc lại:

Chuyến xe sau không còn anh nữa

Xe vẫn chạy nghìn đời chỉ vắng anh thôi

(Chuyến xe)

Có lưu luyến, có nuối tiếc, song không thấy buông xuôi. Hơn thế, nhiều lúc nhà thơ tỉnh táo lắm. bài Mất giá là một minh chứng:

Những nhà thơ mất giá

Lại thường hay đổi tiền

Mong dùng nhiều chữ lạ

Lừa người tiêu quá quen

Nhà thơ đề dưới bài thơ: “Mùa bệnh 1988”. Cũng trong cái “mùa bệnh” ấy, bên cạnh những câu thơ rất “tỉnh” ấy, có nhiều câu thơ rất “say”. Nhà thơ triết lý về bức tranh “Lý ngư vọng nguyệt” để chúng ta có dịp phát hiện thêm chiều kích khác của con người anh:

Mê đôi mắt si dại kia trăng rơi tõm xuống hồ

Không mảy may vẩn vơ cái bóng đen của sự chết. Chỉ có sự sống, hơn thế sức sống, một sức sống tràn trề. Nhà thơ của chúng ta tự mình vượt qua mình, có nhức nhối đấy, lại trắc trở nữa, nhưng quan trọng là sự đến. Anh đã đến được điểm cao của sự sống ngay nơi giáp ranh với cái chết, rồi thăng hoa thành những vần thơ tâm huyết để lại cho đời. Đó có lẽ là cái chất ngọc quý nhất của thơ Chế Lan Viên trong hai năm cuối đời mình.

                                                                                                                               Đà Lạt, 6-94