Khởi đầu công cuộc Đổi mới văn chương ở nước ta

Công  cuộc Đổi mới là trung tâm của dòng chảy văn chương Việt Nam giai đọan 1975 – 2000. Việc tìm hiểu một cách khách quan cơ sở nảy sinh và nhân tố phát sinh buổi đầu sẽ góp phần nhận diện, lý giải những thành tựu cùng những hạn chế của văn chương nước ta trong hai mươi lăm năm cuối cùng của thế kỷ XX.

Tuy nhiên, đi vào căn nguyên và khởi nguyên của công cuộc Đổi mới văn chương, vào cái thời cách đây chưa phải đã là xa, cũng không phải là việc dễ dàng. Rất nhiều sự kiện có liên quan, phong phú mà đa tạp. Cách nhìn nhận hiện vẫn còn nhiều khác biệt. Tôi chỉ xin đi vào những sự kiện bản thân cho là điển hình nhất, mong bước đầu rút ra những kết luận cần thiết.

Cuối năm 1978, tổ chức ở Hội Nhà văn có một sự chuyển biến quan trọng. Đảng đoàn Hội Nhà văn được thành lập, đứng đầu là nhà văn Nguyên Ngọc. Các thành viên khác của Đảng đoàn, ngoài Nguyễn Đình Thi và Chế Lan Viên, hầu hết là các nhà văn ở các chiến trường về hoặc từ quân đội chuyển sang. Công việc đầu tiên của Đảng đoàn là tổ chức một chuyến đi nghiên cứu khá đài về các vần đề lý luận và kinh nghiệm lãnh đạo văn chương nghệ thuật ở Liên Xô. Sau khi trở về nước. Đảng đoàn triệu tập một cuộc họp các đảng viên Hội Nhà văn Việt Nam (thường gọi tắt là Hội nghị đảng viên) chuyên bàn về sáng tác văn chương. Hội nghị được tiến hành vào các ngày 11, 12, 13/ 06 /1979 tại Hội trường Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam. Đây là cuộc hội nghị có tính chất nội bộ nhằm bước đầu trao đổi về một số vấn đề liên quan đến tình hình và định hướng sáng tác, trước khi đưa ra trao đổi rộng rãi trong toàn thể hội viên. Nhà thơ Đào Xuân Quý nhận xét: Chưa bao giờ có một Hội nghị của Hội Nhà văn mà được dư luận cả trong và ngoài Hội chú ý như vậy. Phải chẳng đó là điều mà tất cả những người hoạt động vă học, và những người quan tâm đến văn học đều suy nghĩ, đều chờ đợi?(39, tr.202).

Để việc thảo luận được tập trung, Đảng đoàn đã soạn thảo Bản Đề cương đề dẫn (thường gọi tắt là Đề dẫn) do nhà văn Nguyên Ngọc chấp bút và trình bày. Đề dẫn có hai phần chính:

- Nhìn lại một thời kỳ văn học đã qua.

- Phương hướng, nhiệm vụ của văn học trong tình hình mới.

Phần 1, sau khi đã đánh giá những thành tựu của văn chương từ sau Đại hội Nhà văn lần thứ hai (01/1963), Đề dẫn đã nghiêm túc và thẳng thắn chỉ ra những hạn chế rõ rệt trong giai đoạn văn chương này là: “Những thành tựu văn học của chúng ta còn chưa tương xứng với tầm cỡ cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc mấy chục năm qua. Sự nghiệp của Đảng, của nhân dân thì to lớn, hùng vĩ, sâu sắc, mà sự nghiệp văn học ta đã đạt được thì quá bé nhỏ, mờ nhạt, nông cạn. Khoảng cách giữa đời sống và văn học còn quá xa”. Đề dẫn dành trọng tâm cho việc chỉ ra một trong những nguyên nhân góp phần không ít vào tình trạng trì trệ này là sự chậm trễ kéo dài, sự thô thiển kéo dài trong hoạt động lý luận và phê bình văn chương. Sự thô thiển rõ nhất và cơ bản nhất là ở quan niệm về chức năng văn chương. Trước hết là sự dung tục hóa mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực. Đề dẫn khẳng định: “Nó tuyệt đối hoá hiện thực, và kết quả là buộc văn học phải khiếp nhược trước hiện thực, người nghệ sỹ phải khiếp nhược trước đời sống… nó hạ thấp văn học xuống thành một sự sao chép hiện thực, coi giá trị văn học cao nhất là làm sao cố sao chép cho đúng y nguyên hiện thực, có thế thôi. Bởi vì, theo nó, “hiện thực đã tốt, đẹp đến mức không còn gì có thể tốt, đẹp hơn”…

Quan hệ thô thiển về chức năng của văn chương cũng dung tục hoá mối quan hệ giữa văn chương và chính trị. Đề dẫn nhấn mạnh: “Nó tuyệt đối hoá chính trị, tuyệt đối hoá sự chi phối tất yếu của chính trị đối với văn học mà quên rằng với tư cách là những hình thái ý thức xã hội, chính trị và văn hoá, qua những sự khúc xạ gần xa khác nhau đều là phản ánh hiện thực đấu tranh xã hội. Chúng tôi nghĩ Đảng không bao giờ đòi hỏi văn học nghệ thuật minh hoạ chính trị, trái lại Đảng yêu cầu, còn cao hơn nhiều, văn học nghệ thuật với sức mạng riêng của nó, làm phong phú thêm cho chính trị bằng những khám phá và sáng tạo của riêng mình, không thay thế được”. Điều đáng lo ngại hơn cả là tình trạng lạc hậu về lý luận phê bình văn chương kéo dài đã góp phần tạo nên những định kiến xã hội đơn giản, dung tục đối với văn chương, xói mòn năng lực thẩm mỹ của người đọc. Mặt khác, nó thấm cả vào chính người cầm bút, xói mòn ý chí sáng tạo, dũng khí sáng tạo, ý thức trách nhiệm xã hội của nhà văn, “tạo nên cản trở vừa ở ngoài họ, quanh họ, vừa ở trong chính họ”.

Phần 2, Đề dẫn đặt ra việc nhận thức lại cho đúng vị trí của cá nhân trong quan hệ với tập thể: “Vấn đề của chúng ta ngày nay là kích thích niềm khao khát của con người tự phát triển năng lực sáng tạo cá nhân của mình đến cao nhất, để chiếm đoạt toàn bộ thế giới chung quanh, làm chủ nó, cho tất cả, cho xã hội, cho con người. Chứ không phải là xoá bỏ niềm khát khao tự phát triển năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân đi, tạo nên một thứ tập thể vô danh, nặng nề, đồng loạt và do đó yếu đuối. Tập thể mà sinh động, tập thể mà tinh nhuệ”. Có thể nói, vào thời điểm lúc bấy giờ đây là những nhận định thật sáng suốt và can đảm, góp phần tháo gỡ nhiều vướng mắc trong nhận thức của giới văn chương v văn học ở ta.

Bài Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua in trên Văn nghệ số 23, ngày 9/06/1979 của Hoàng Ngọc Hiến giữ một vị trí gần như mở đầu cho việc khai phá về phương diện lý luận theo hướng tìm tòi, tự đổi mới. Có thể xem bài viết này là một minh chứng hùng hồn cho vai trò của lý luận văn chương trong những thời điểm chuyển mình, thật là đặc biệt. Rõ ràng, lý luận có thể đi trước một bước bằng sự nhạy bén của các nhà lý luận có đầu óc khoa học sáng suốt và có trái tim nghệ sỹ nhạy cảm.

Điểm xuất phát của bài viết là quan niệm văn chương của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài Viết về chiến tranh. Rõ nhất, tập trung nhất là nhận xét: “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước” (Văn nghệ Quân đội, số 11 / 1978). Theo Hoàng Ngọc Hiến thì đây là một trong những bài phê bình văn chương đáng chú ý nhất trong thời gian gần đây. Thái độ của ông là khẳng định, là chia sẻ. Cố nhiên, tác giả bài báo đã phát triển, mở rộng thêm nhiều.

Hoàng Ngọc Hiến trong khi tán thành với ý kiến trên của nhà văn Nguyễn Minh Châu, đã cho rằng “sự lấn át này đang là trở ngại trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực” của văn chương, đặc biệt là của tiểu thuyết. Hoàng Ngọc Hiến triển khai tiếp: “Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sỹ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống cho “phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho “chân thật””. Từ đó, bật lên tư tưởng sẽ được nhiều người nhắc đi nhắc lại sau đó: Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”.

Nhiều người chỉ chú ý tới thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực phải đạo, và thường theo hướng phê phán nghệ thuật, nói riêng là văn chương Việt Nam đương đại. Thật ra, đây chỉ là một trong những tư tưởng phát sinh từ tư tưởng trọng tâm sau: “Xác định xu hướng cao cả như là một đặc tính phổ quát của nền văn học nghệ thuật ở ta hiện nay. Ông viết: Thực ra trong đời sống văn học, nghệ thuật của ta hiện nay, cái cao cả còn biểu hiện một cách phổ quát ở nhiều mặt khác… là sự lấn áp của cấp lý tính đối với cấp cảm tính trong sự nhận thức của chủ thể mỹ học, sự lấn át của nội dung đối với hình thức trong cấu trúc của hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc trong hình ảnh con người mới, cũng như sự lấn át của bản chất đối với hiện tượng trong hình ảnh cuộc sống mới được phản ánh vào tác phẩm”.

Hoàng Ngọc Hiến đã giải thích tư tưởng then chốt này trên quan điểm phát triển. Ông khẳng định xu hướng cao cả không phải là định mệnh. Vì quan hệ lấn át vốn là đặc trưng của cái cao cả có thể phát triển theo hai chiều hướng: “Chuyển hoá thành quan hệ cân bằng hài hoà, tiếp cận với cái đẹp như là lý tưởng, và chiều hướng quan hệ lấn át vượt quá mức độ mà nghệ thuật không có thể chấp nhận được để biến thành phản nghệ thuật”. Ông khẳng định dứt khoát là nền nghệ thuật của chúng ta đang trong giai đoạn trưởng thành, nên những mâu thuẫn ở dạng quan hệ lấn át thuộc loại mâu thuẫn hình thức không đối kháng.

Quan niệm của Hoàng Ngọc Hiến cũng ít khi rơi vào cực đoan. Chẳng hạn ông khẳng định: “Không thể lấy cái “màu mè” của chủ nghĩa hình thức để bổ sung cho sự lấn át của nội dung đối với hình thức, cũng như không thể lấy cái “ướt át” của sự buông lỏng bản năng và tình cảm để bổ sung cho sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc. Lẽ nào lại đi lấy những biểu hịên bệnh hoạn của một quá trình suy thoái, tan rã đề “sửa sang” cho những chỗ non yếu của một quá trình trưởng thành” Một ci nhìn cĩ cơ sở lý luận v thực tiễn, lại ít khi phiến diện l điểm cần nhấn mạnh của bài báo, và đó chính là đóng góp quý giá, đáng trân trọng của Hịang Ngọc Hiến trong bước khởi đầu của công cuộc Đổi mới tư duy văn chương và văn học ở ta. 

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI quả thật đã đáp ứng nhiều đòi hỏi bức xúc của văn chương, nghệ thuật. Đại hội đã chỉ ra phương hướng nhất quán là “Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật; xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc”. Điều này thể hiện lập trường kiên định của Đảng trong chiến lược phát triển văn hoá văn nghệ trong tình hình mới. Vai trò của văn chương nghệ thuật cũng được xác định thật sát hợp: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”. Thêm một lần nhấn mạnh. Từ đó, nhiều chính sách phù hợp, cụ thể đã được chỉ ra, trong đó việc “động viên sáng tạo, khuyến khích tài năng”, cũng như việc “khuyến khích tìm tòi và thể nghiệm” được chú trọng. Sẽ không có gì đáng nói nếu như ai cũng nhận thức rõ đặc trưng của mọi tìm tòi nghệ thuật. Tiếc là không phải vậy! Nên rất cần sự khẳng định chính thức trong các văn kiện quan trọng của Đảng. Nghị quyết Đại hội đồng thời yêu cầu: “Đẩy mạnh công tác phê bình văn học, nghệ thuật với tinh thần xây dựng, dũng cảm và vô tư, khắc phục thói nể nang và khuynh hướng lệch lạc, loại trừ các biểu hiện thô thiển”.

Đặc biệt, dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc Lần thứ VI, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới, được khởi thảo. Để chuẩn bị cho Nghị quyết quan trọng này, trong tháng 6 và tháng 7 năm 1987, tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Ban Văn hoá – Văn nghệ Trung ương đã tổ chức 10 cuộc hội thảo khoa học về các vấn đề văn hoá, văn học và nghệ thuật. Hàng trăm các nhà hoạt động văn hoá, các văn nghệ sỹ tiêu biểu đã tham dự. Mặc dù hoạt động ở nhiều ngành và khu vực khác nhau, nhưng hầu hết các ý kiến đều tập trung vào những vấn đề đáng quan tâm nhất. Bi Tổng hợp ý kiến trong các cuộc hội thảo đăng trên Thông tin Văn hóa – Văn nghệ, số 1, 1988 đã  phản ánh khá đầy đủ những ý kiến đáng quan tâm nhất.

Về vấn đề kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, các ý kiến đều thống nhất cho rằng thanh niên hiện nay hiểu về truyền thống rất ít, có nguy cơ cắt đứt truyền thống. Đôi khi ta nhìn nhận truyền thống lại không thật chính xác, thấy cái mạnh mà chưa thấy hết cái yếu. Chẳng hạn, chúng ta có những mặt thiếu hụt như tinh thần dân chủ, khoa học, quốc tế, và công nghiệp. Trong xây dựng văn hoá và văn nghệ, kế thừa truyền thống là một mặt, đồng thời phải tạo nên được cái mới. Việc này ta chưa quan tâm đầy đủ. Về việc tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, ta có làm nhưng còn rất ít, không có kế hoạch, không có hệ thống. Sự giao lưu trong lĩnh vực văn hoá ở ta còn quá hẹp, chưa đa phương, đa hướng.

Các ý kiến trong các cuộc hội thảo lưu tâm tới những nhân tố kìm hãm tiềm năng về văn hoá, văn nghệ. Nổi bật là nguyên do thuộc về nhận thức chưa chính xác, chưa đầy đủ về vai trò, vị trí, chức năng của văn hoá và văn nghệ. Cần phải đổi mới và nâng cao trình độ lý luận cho phù hợp với tình hình mới. Vấn đề trung tâm của văn hoá, văn nghệ là vấn đề con người. Ta chưa quan tâm đúng mức đến yếu tố con người, chưa thấy rõ con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Chiến lược con người ở ta cũng chưa thật rõ. Phải quan niệm rành rọt rằng chiến lược con người nằm trong chiến lược kinh tế – xã hội. Nói cho cùng thì chiến lược kinh tế – xã hội chính là chiến lược con người.

Nhiều ý kiến tập trung vào mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, và cho rằng vừa qua ta còn hiểu thô thiển, quan niệm văn nghệ phục vụ chính trị một cách cực đoan, không thấy vị trí tương đối độc lập của văn nghệ, đặc thù của văn nghệ, không thấy rõ văn nghệ là một nhiệm vụ quan trọng của chính trị. Có người nêu ý kiến không nên đặt vấn đề văn nghệ phục vụ chính trị mà nên đặt vấn đề chính trị  và văn nghệ cùng có sứ mạng chung là đem lại hạnh phúc cho con người. Cũng do quan niệm văn nghệ phục vụ chính trị một cách cực đoan nên dẫn đến tình trạng áp đặt đề tài, xem thường phong cách, tài năng, hiểu chức năng của văn nghệ chưa đầy đủ, chính xác, coi văn nghệ là một công cụ để giáo dục – ngay giáo dục cũng lại chỉ nhấn mạnh giáo dục chính trị, đạo đức cách mạng, không thấy rõ văn nghệ cải tạo, xây dựng con người, cải tạo, xây dựng xã hội, nhân đạo hoá con người và xã hội, làm phong phú đời sống tinh thần con người. Đấy là chưa nói nhiều người còn xem nhẹ chức năng dự báo của văn nghệ.

Các cuộc hội thảo để chuẩn Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị là sinh hoạt lý luận, phê bình lớn và bổ ích. Ở đây, trong không khí dân chủ, nhiều vấn đề đổi  mới tư duy lý luận văn chương, nghệ thuật được đề xuất, trao đổi, thảo luận. Có nhiều ý kiến rất mạnh dạn, thẳng thắn, thể hiện sự suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới theo tinh thần cách mạng và khoa học.

Ngày 28/11/1987, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị chính thức được ban hành. Nghị quyết thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm và nhược điểm của văn hoá, văn nghệ trong thời gian qua. Nghị quyết nêu rõ: “Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, cần nhận rõ chất lượng và hiệu quả các hoạt động văn hoá, văn nghệ nói chung còn thấp, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị còn ít, tiềm năng sáng tạo chưa được huy động đầy đủ, bệnh phô trương hình thức, công thức, sơ lược còn nặng”. Một trong những nguyên do dẫn đến tình trạng trên thuộc về nhận thức lý luận chưa theo kịp tình hình mới. Với yêu cầu “Văn nghệ nước ta càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”, Nghị quyết đòi hỏi văn nghệ phải trở thành “tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của sự thật, của lương tri, của tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa… , phát huy chức năng hiểu biết, khám phá, dự báo, sáng tạo, nắm bắt nhạy bén hiện thực đang diễn biến”. Đặc biệt, từ phương châm “phải quán triệt sâu sắc quan điểm cơ bản của Đảng là coi trọng con người”, Nghị quyết chỉ rõ: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hoá, văn nghệ, để phát triển tài năng… Cần tạo một không khí hồ hởi trong sáng tác, khêu gợi nhiều cảm hứng sáng tạo cao đẹp trong các văn nghệ sỹ… . khuyến khích văn nghệ sỹ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật”. Đồng thời Nghị quyết nhấn mạnh: “Tự do sáng tác đi đôi với tự do phê bình”. Tuy nhiên, để có tự do thật sự, các nhà lý luận, phê bình cần phải: “Nâng cao tính lý luận, trình độ khoa học, trình độ thẩm mỹ, hiểu biết thực tế sáng tác và thực tế cuộc sống sâu sắc hơn nữa trong công tác phê bình văn học, nghệ thuật”.

Có thể nói, đây là Nghị quyết quan trọng đáp ứng nhiều đòi hỏi của đời sống văn chương, nghệ thuật, có ảnh hưởng sâu rộng tới tư duy lý luận trước mắt cũng như lâu dài.

Từ những điều đã phân tích ở trên, có thể đi tới hai kết luận quan trọng sau:

- Công cuộc đổi mới ở ta trước hết bắt nguồn từ những đòi hỏi sống còn của bản thân đời sống văn chương, nghệ thuật. Sự sáng suốt trong lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung biểu hịên ở khả năng nhạy bén phát hiện ra những vấn đề của đời sống, phản ánh kịp thời trong các nghị quyết, chỉ thị về văn hóa văn nghệ, để chỉ đạo có hiệu quả thực tiễn sáng tạo đặc thù của nghệ thuật.

- Trong bước khởi đầu của công cuộc Đổi mới, sự thay đổi quan niệm văn chương, nghệ thuật cho phù hợp với thời cuộc, nhất là đối với quan niệm của giới lãnh đạo và văn nghệ sỹ, mang ý nghĩa quyết định. Từ đó mới đưa đến sự thay đổi rõ rệt trong sáng tác và phê bình vào giai đọan sau. Lý luận nghệ thuật nước ta đã phần nào tỏ rõ vai trò tiên phong của mình, đặc biệt vào những thời khắc biến chuyển của đời sống và của văn chương, nghệ thuật.