Đội ngũ các nhà thơ DTTS thế hệ thứ ba

Tôi chỉ xin giới hạn ở những cây bút thiên về sáng tác thơ. Vậy là, bài viết sẽ không đề cập đến sáng tạo của các nhà văn có làm thơ như Mã A Lềnh (anh đã có hai tập thơ), Ma Trường Nguyên (anh cũng từng cho công bố hai tập thơ và một trường ca), La Quán Miên (Nhà xuất bản Nghệ An đã ấn hành tới ba tập thơ của anh)… Tuy nhiên, bạn đọc nhớ tới các anh, trước hết với tư cách là những cây bút văn xuôi. Thành tựu chủ yếu của các anh cũng được khẳng định chủ yếu trên địa hạt này.

Tôi quan tâm tìm hiểu đội ngũ các nhà thơ dân tộc thiểu số vì hai lẽ chính. Một là, từ bao đời nay, thơ là một thể tài luôn giữ một vị trí danh dự trong đời sống văn hoá, đời sống nghệ thuật của đồng bào các dân tộc nước ta. Người dân tộc thiểu số thường sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Thơ, với ngôn từ súc tích, giàu âm điệu, vần điệu, dễ bay cao, truyền xa, vang sâu. Và hai là, so với các loại hình nghệ thuật và các thể tài văn chương khác, thơ các dân tộc thiểu số thu lượm được nhiều thành công hơn cả. Những tên tuổi tiêu biểu của văn học nghệ thuật các dân tộc thuộc về các nhà thơ. Cũng rất dễ dàng kể ra những nhà thơ dân tộc ta yêu mến, những bài thơ dân tộc gây ấn tượng. Trong khi, riêng về văn xuôi, thì chưa được như vậy. Bởi thế, sẽ không thể hình dung nổi diện mạo tinh thần, diện mạo văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số nếu thiếu thi ca.

Khi có ý định hình dung các thế hệ nhà thơ các dân tộc thiểu số, tôi dựa hẳn vào cách quan niệm quen thuộc, gần như được nhiều người tán đồng. Thế hệ đầu tiên, thế hệ đắp móng xây nền, gắn liền với những tên tuổi thật đáng nhớ như: Nông Quốc Chấn (dân tộc Tày), Bàn Tài Đoàn (dân tộc Dao), Cầm Biêu (dân tộc Thái)… Có thể xem các nhà thơ Vương Trung, Lò Văn Cậy (dân tộc Thái), Nông Viết Toại, Triều Ân (dân tộc Tày), Mã Thế Vinh (dân tộc Nùng)…thuộc thế hệ thứ hai. Đông đảo và hùng hậu hơn là các nhà thơ thuộc thế hệ thứ ba. Để mềm dẻo, ở đây, tôi dùng phổ hệ khá rộng để nhận diện đội ngũ các nhà thơ các dân tộc thiểu số thuộc thế hệ này. Xuất hiện trước một chút là những cái tên quen thuộc: Vương Anh (dân tộc Mường), Y Phương (dân tộc Tày), Lò Ngân Sủn (dân tộc Giáy)… Sau đó, dường như đến độ mãn khai, đến giai đoạn bùng phát là dồn dập các nhà thơ: Mai Liễu, Dương Thuấn, Lương Định, Triệu Lam Châu (dân tộc Tày), Lâm Quý (dân tộc Cao Lan), Pờ Sảo Mìn (dân tộc Pa Dí), Dư Thị Hoàn (dân tộc Hoa), Triệu Kim Văn (dân tộc Dao), Inrasara (dân tộc Chăm), Hùng Đình Quý (dân tộc Mông), Lò Cao Nhum (dân tộc Thái), HơVê (dân tộc Hơ Rê), Trần Thanh Pôn (dân tộc Khmer)…

Dễ thấy, đội hình các nhà thơ dân tộc thiểu số thuộc thế hệ thứ ba thật đẹp. Đều khắp các vùng miền của đất nước: từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên, Tây và Đông Nam Bộ. Rất, rất nhiều dân tộc hiện diện và có tiếng nói. Phải thừa nhận, đây là kết quả của cả một quá trình kiên trì phát hiện, đầu tư, bồi dưỡng đúng đắn trong nhiều năm liền của các cấp lãnh đạo và quản lý văn hoá, văn học nghệ thuật từ trung ương đến các địa phương. Rất cần có tầm nhìn xa rộng. Và rất nhiều tâm huyết, rất nhiều công sức đã bỏ ra. Nhưng phần chính, quyết định thuộc về ý chí, nghị lực và tài năng của từng người cầm bút.

Thế hệ thứ ba này có những điểm mạnh đáng kể nào? Thứ nhất, họ hiện là những cây bút chủ lực, tạo ra bản sắc, làm nên đóng góp quý giá của thi ca các dân tộc thiểu số đối với nền thơ đương đại Việt Nam. Thứ hai, hầu hết các nhà thơ đều có ý thức sâu sắc về nghề nghiệp. Cầm bút với họ là một thiên chức thiêng liêng. Dân tộc đã chọn họ để trao gửi ý nguyện bao đời nay của mình; và họ đã gắng gỏi để xứng đáng với sự chọn lựa thiêng liêng ấy. Thứ ba, phần đông trong số họ được học hành bài bản, đến nơi đến chốn. Kiến văn họ tương đối rộng, tư duy họ tương đối mới. Đặc biệt, họ tỏ ra am hiểu nghề nghiệp, chất chứa khát vọng sáng tạo từ dân tộc vươn thẳng tới hiện đại. Thứ tư, thành tựu thi ca của họ là rõ rệt, hầu như được đông đảo bạn đọc trong cả nước đón nhận. Không ít người trong số họ đã lộ rõ cá tính, được giới phê bình đánh giá khá cao.

Có thể nói, đồng bào các dân tộc luôn trông cậy vào đội ngũ các nhà thơ thuộc thế hệ thứ ba hàng ngày. Họ sung sức trong sáng tạo. Họ đang ở độ chín của tài năng. Họ đã chứng tỏ được mình trước mọi người. Do đặt nhiều kỳ vọng ở họ, tôi xin được thay mặt những người yêu mến họ để thẳng thắn nêu ra đây những thách thức trước họ. Và cả những lo ngại của chúng ta về họ.

1. Cần tập trung cho sáng tạo

Đội ngũ nhà thơ các dân tộc thiểu số thuộc thế hệ thứ ba đang nắm giữ những vị trí lãnh đạo quản lý chủ chốt về văn hoá, văn nghệ ở Trung ương và các địa phương. Mâu thuẫn đã hé lộ ở đây. Trách nhiệm sáng tạo và trách nhiệm quản lý đè nặng lên hai vai họ. Mà xem ra, với họ, trách nhiệm nào cũng đều phải được hoàn thành, lại phải hoàn thành một cách xuất sắc. Bản tính của họ vốn thế. Bao giờ cũng đòi hỏi cao ở mình trong khi thời gian, công sức, tâm lực chỉ là một hằng số. Chia sẻ ra sao là cả một vấn đề. Không thể xem nhẹ bên này mà coi nặng bên kia. Sáng tạo, ai cũng đều rõ, là phải xả thân, phải hết mình. Không thể không chấp nhận đánh đổi. Giá phải trả nhiều khi không nhỏ. Vậy các nhà thơ nghĩ gì? xử lý ra sao? Tôi hy vọng và tôi còn tin tưởng là họ sẽ giải quyết tốt mối quan hệ rất khó giải quyết này. Để đảm bảo sự hài hoà. Ấy là chưa nói tới chuyện mưu sinh. Thời cuộc đã đổi thay, ta không chấp nhận nghèo nàn, kham khổ mãi. Đời sống của ta và đời sống của những người thân trông chờ vào ta. Lại thêm một trở ngại. Đối mặt hàng ngày. Né tránh không được. Sự sáng tạo đã khó lại trăm bề khó hơn. Nghị lực, bản lĩnh của họ lại thêm một lần bị thử thách. Sự giằng xé này là thực tế. Nói ra để thêm cảm thông với họ. Nhưng cũng không quên đòi hỏi ở họ.

2. Cần sự sáng tạo dài hơi

Ta đã thấy trường ca xuất hiện. Như của Y Phương, Dương Thuấn, Inrasara – Phú Trạm… Các bản trường ca của các anh đã gây được ít nhiều ấn tượng. Bằng cớ là được nhận giải thưởng. Ta không quá đánh giá cao giải thưởng. Chân giá trị của giải không phải lúc nào và ở đâu cũng đảm bảo. Song dẫu sao giải cũng là một sự thừa nhận. Đó là một bằng chứng phải tính đến. Nhưng số người viết trường ca xem ra còn ít. Những người dự định viết trường ca cũng không nhiều. Tôi không nói, ai cũng hợp với trường ca. Tôi cũng không xem nhẹ thơ trữ tình ngắn, cực ngắn vốn quen thuộc với phần đông các nhà thơ dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, trường ca có vị thế riêng của nó. Dung lượng lớn, tầm bao quát rộng đòi hỏi trường sức, trường hơi. Thế hệ thứ ba phần đông đã nằm trong đội hình U50, U60. Ai cũng biết sáng tạo có quy luật riêng, không phải muốn là được. Cần tận dụng năng lực thời sung sức. Ai dám nói trước, khi về già, mọi chuyện chung và riêng đã an bài, ta còn có thể ham viết. Ham đọc, ham học thì có thể ép mình làm. Ham viết thì khó, thậm chí không thể. Rất nhiều lý do để biện minh. Mà xem ra lý do nào cũng đều có sức nặng, dễ tạo cảm thông đối với người khác. Hãy thử đặt mình vào cái thế không thể lùi xem sao. Mọi chuyện có thể sẽ khác chăng?

3. Cần sự tìm tòi đúng hướng

Một vài năm gần đây, bạn đọc quan tâm tới thi ca các dân tộc thiểu số rất mừng vì nhận ra dấu hiệu của những tìm tòi. Nghệ thuật bao giờ cũng kỵ sự hài lòng, thoả mãn. Tôi chưa nhận ra trạng huống này ở các nhà thơ thuộc thế hệ thứ ba. Song sáng tác cầm chừng, túc tắc, được đến đâu hay đến đó thì có. Càng quý sự can đảm bứt phá lối mòn, tự đổi mới. Trong tư duy nghệ thuật và trong thi pháp biểu hiện. Rồi sự mở rộng đường biên sáng tạo tới những vùng đất mới mẻ, ít nhiều còn xa lạ với số đông. Bao bất ngờ chờ đợi ở phía trước. Cùng với chông gai. Theo dõi diễn biến thi ca của các dân tộc thiểu số, sau cái mừng là cái lo. Có phải tất thảy đều là đổi mới đích thực? Có không cái bóng của một ai khác? Nếu có thì rất không nên. Càng không nên nếu là cái bóng của hải ngoại. Ta quý sự sáng tạo của người Việt ở hải ngoại. Họ cũng là một phần của cộng đồng chúng ta. Cần lắng nghe tiếng nói thi ca của họ. Nhưng đa tạp lắm. Bên cạnh một đôi cái hay có không ít cái dở, cái sai, thậm chí cái độc. Cần phải dè chừng! Nếu không sẽ chệch hướng, lệch hướng. Bi thảm lắm! Biết bao bài học nhãn tiền.  Chệch hướng về tư tưởng và lệch hướng về văn chương. Có nhà thơ buổi đầu xuất hiện còn hồn nhiên. Thơ họ hay ở sự hồn nhiên. Lâu dần không còn được như trước. Và chất văn, chất thơ cũng ngày một cạn kiệt dần. Ý tưởng thì có mà lộ liễu, mà khô cứng. Sự nhuần nhị trong tư tưởng thi ca, tư tưởng nghệ thuật bao giờ cũng là một đòi hỏi tự nhiên của những sáng tạo đích thực. Nếu không thì cái lẽ tồn tại của nghệ thuật, của thi ca cũng không còn. Người đọc sẽ không cần đến chúng ta nữa.

Trên đây là một vài suy nghĩ thẳng thắn của riêng tôi, chắc khó tránh khỏi hời hợt. Chỉ mong chúng ta nhớ tới hai câu thơ của Mã A Lềnh: Đôi khi cười mỉm và thầm khóc/ Chỉ giận mình chẳng thể viết hay hơn.  Xin hãy cùng suy nghĩ với nhà văn người Mông này, để có thêm cơ sở hy vọng và tin tưởng.