Con đường đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp của thế hệ nhà thơ trước cách mạng

        Thơ kháng chiến chống thực dân Pháp là bước khởi đầu đầy triển vọng của nền thơ cách mạng giàu sức sống của chúng ta. Ngoài những bài thơ mang tầm dân tộc và thời đại của Hồ Chí Minh, người cắm ngọn cờ đánh dấu sự thành đạt trong thơ giai đoạn này là Tố Hữu với “Việt Bắc”. Sau Tố Hữu phải kể đến thế hệ các nhà thơ vốn là con đẻ trực tiếp của cuộc kháng chiến như Nguyễn Đình Thi, Vũ Cao, Trần Mai Ninh, Trần Hữu Thung, Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, Thôi Hữu, Hoàng Trung Thông, Minh Huệ, Chính Hữu, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn ... Về mặt sáng tác, những đóng góp của các nhà thơ thuộc thế hệ trước Cách mạng, trừ Tú Mỡ, nhìn chung chưa có gì thật sự đáng kể. Với bút hiệu mới - Bút chiến đấu - cây bút trào phúng Tú Mỡ đã xông xáo và hết lòng phụng sự có hiệu quả công cuộc kháng chiến, nêu một tấm gương sáng cho các nghệ sĩ noi theo. Nhà thơ Xuân Diệu từng viết về Tú Mỡ : “Nổi lên trước mắt tôi cái gương của nhà thơ đàn anh mà tôi phải học. Đó là tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ chính sách, đó là cái tài làm thơ dẻo dai không mòn sút, là óc thiết thực nhìn tác dụng của văn nghệ vào sự ăn làm của nhân dân” (1) . Không phải ngẫu nhiên mà Tú Mỡ được trao giải nhất về thơ ca của Hội Văn nghệ Việt Nam vào năm 1951. Và, ta không thể hình dung trọn vẹn gương mặt thi ca giai đoạn này nếu bỏ qua “Nụ cười kháng chiến”của ông. Có lẽ thơ trào phúng nghiêng về nhận thức và phê phán nên sự chuyển biến nhanh chóng và dễ dàng hơn chăng ? Còn nhìn chung các nhà thơ từng nổi danh trước Cách mạng như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Thâm Tâm... đều viết ít và không mấy thành công.

            Xuân Diệu sau những lời ca đầy nhiệt huyết vào buổi bình minh của Cách mạng tháng Tám trong “Ngọn quốc kỳ” (1945), “Hội nghị non sông” (1946), cảm hứng thơ về sau có phần trễ nải. Không ít câu thơ thành hình bởi những đại ngôn, ít chất sống, và càng ít hơn chất tình :

            Giữa sớm mai hồng, tôi sẽ lên đường trở lại

            Giữa vũ trụ nhân gian, trong gia đình xã hội

            Giữa quốc gia nhân loại, trong thế giới gia đình

                                                            (Trở về)

Các câu thơ như vậy nếu không kịp đọng trong lòng người đọc cũng là dễ hiểu.

            Lưu Trọng Lư gắng tự đổi mới trong cảm xúc (Tiếng hát thanh niên) trong thi pháp (O tiếp tế) nhưng chưa đạt được sự nhuần nhị cần thiết. Bài “Ngò cải đơm hoa” có đặt ra vần đề chia ly và mất mát của đôi lứa trong kháng chiến song chưa thể sánh được với “Thăm lúa” của Trần Hữu Thung và “Núi đôi” của Vũ Cao.

            Thơ Huy Cận chững lại một cách rõ rệt. Bài “Gặt lúa đêm trăng” rơi vào kể lể dễ dãi. Nhiều từ ngữ trong bài “ Tòng quân” tỏ ra xa lạ với đối tượng thể hiện :

                        Điệp những lòng trai gái

                        Trong nỗi niềm chiến chinh

            Bài thơ được nhiều nhà nghiên cứu xem là thành công hơn cả của Chế Lan Viên trong giai đoạn này là “Bữa cơm thường ở bản nhỏ” vẫn chưa rõ dáng dấp của một Chế Lan Viên trong “Điêu tàn” và càng chưa dự báo được tầm vóc của một Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa” và “Hoa ngày thường, chim báo bão” sau này. Có thể nói những câu thơ sau chưa cao hơn những lời hò vè là mấy (Tất nhiên có thể rất hữu ích về mặt tuyên truyền tuy sự tuyên truyền ở đây chưa vươn tới tầm cao của nghệ thuật tuyên truyền) :

                        Từ có Bác cuộc đời chợt sáng

                        Bát cơm no tháng Tám ngày ba

                        Cơm thơm ăn với cá kho

                        Công đức Bác Hồ bản nhớ nghìn năm

            Cảm nghĩ trong nhiều bài thơ của Tế Hanh còn sơ sài và đơn giản nên ít lay động và lắng đọng. Bài “Nhớ Bác Hồ” là một ví dụ điển hình :

                        Bao nhiêu nỗi nhớ người dân Việt

                        Có nhớ nào như nhớ Bác Hồ

                        Từ thuở làng chia khu kháng chiến

                        Nhớ Người chung với nhớ Thủ đô

Ưu thế của nghệ thuật chưa được tỏ rõ. Bài “Người đàn bà Ninh Thuận” cũng không ra ngoài đường hướng chung ấy.

            Thâm Tâm thật cố gắng và khó nhọc để hoàn thành bài “Chiều mưa đường số 5”. Nhà thơ bộc bạch cùng Văn Cao rằng : “Đã lâu mình mới làm được một bài đấy”. Ý thức muốn đóng góp một phần công sức của mình với tư cách là một nghệ sĩ cho sự nghiệp kháng chiến là rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, thành công trong nghệ thuật còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện khác nữa. Vậy nên, nếu Văn Cao “không thích bài thơ ấy” vì “không mang màu sắc riêng của tác giả” cũng không phải là không có lý. (2)

            Nếu có gặt hái được một vài thành tựu trong sáng tác, ngoài Tú Mỡ, có lẽ nên kể đến Nguyễn Bính và Anh Thơ. Đó là hai nhà thơ vốn gắn bó với đồng quê. Họ dễ dàng cảm thông với ý chí và tâm tư của những người nông dân cầm súng và những người phụ nữ nông dân tham gia kháng chiến hơn chăng ? Do vậy, trong thơ giai đoạn này không thể không nhắc đến giọng thơ hào sảng và phấn khích của “Tiểu đoàn 307” và giọng thơ chân tình và sâu lắng của “Kể chuyện Vũ Lăng”. Dẫu sao, một đôi thành công ở họ chưa thật sự tiêu biểu cho cả thế hệ nhà thơ trước Cách mạng đi theo kháng chiến.

            Phải nói là hầu hết các văn nghệ sĩ khoác ba lô tham gia kháng chiến đều sống hết mình. Lưu Trọng Lư sau này viết rất thật ý nghĩ của mình : “Tôi không nghĩ nhiều đến những chuyện siêu hình vớ vẩn là chỉ vì cuộc sống trên đất đã chiếm hết cả ngày tháng của tôi”(3) . Khi ấy, Lưu Trọng Lư hoạt động tuyên truyền và văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên Khu IV. Xuân Diệu làm thư ký tòa soạn tạp chí “Tiên Phong”. Huy Cận tích cực tham gia nhiều hoạt động với cương vị là ủy viên Uy ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Chế Lan Viên sôi nổi hoạt động văn nghệ và báo chí ở Khu IV và chiến trường Bình Trị Thiên. Tế Hanh cũng tích cực hoạt động văn nghệ ở Liên khu V, sau là Trưởng ban phụ trách Chi hội văn nghệ của Liên khu này. Có thể nói nhờ gắn mình với công cuộc kháng chiến mà tư tưởng và nhận thức vốn cực kỳ phức tạp ở họ  đã có sự chuyển biến lớn. Họa sĩ Tô Ngọc Vân nhớ lại : “Quay đầu lại cái dĩ vãng của anh xa đi 4 năm mà sao tít như bằng thế kỷ. Thấy nó nghèo và tội nghiệp quá. Và cái con người kiêu hãnh thời xưa thấy mình rút mình co lại bằng một mảnh vô cùng tận nhỏ, lẫn biến vào cuộc sống gió bão ào ào. Cuộc kháng chiến đã xây nên một biên giới. Bên kia, chúng nó là thoái bộ. Bên  này, chúng ta là đường tiến. Kẻ ở đây là kẻ đã chứng kiến và dự vào cuộc tranh đấu. Kẻ ở đây đã biết những ai hy sinh hơn hết, những ai đau khổ cùng cực hơn cả để giữ nền độc lập của ta cho vững” (4) . Ý nghĩ của họa sĩ bậc thầy Tô Ngọc Vân có ý nghĩa tiêu biểu.

            Tuy nhiên, trong sáng tạo nghệ thuật, từ nhận thức, tư tưởng đến hình tượng, đến tác phẩm bao giờ cũng có một khoảng cách nhiều khi rất lớn. Nghệ sĩ chỉ trình bày được một sự thật, diễn giải được một chân lý khi họ tin hoàn toàn vào sự thật và chân lý đó. Nói một cách khác, nhận thức và tư tưởng phải tan biến vào trong tim óc của họ hóa thành bản năng, tiềm thức của họ. Và vì vậy phải có quá trình, phải có thời gian. Nhất là quá khứ luôn đè nặng lên họ. Ở đây có sự “lột xác”, “ta lìa ta”, vô cùng gian khó và đớn đau tựa như “chuyển một trái núi” (Tô Ngọc Vân). Cuộc kháng chiến giữ vững nền độc lập của dân tộc đồng thời là cuộc cách mạng sâu rộng và triệt để. Đó là công cuộc giải phóng cho thân phận và đầu óc của cả dân tộc và của mỗi con người. Nguyễn Đình Thi trong “Nhận đường” đã ghi lại rất trung thực “những thắc mắc nhiều khi đau xót của một cuộc lột vỏ, cái xác cũ rụng xuống chưa rứt hẳn, da non mới mọc chưa lành, một chút gì chạm phải cũng rỏ máu” (5) . Do vậy, đúng như Lưu Trọng Lư đã nói : Không phải cái ánh sáng đẹp đã đến thì tất nhiên mọi bóng đen trong những nếp nhỏ của tâm hồn đều biến tan được ngay. Thật là dai dẳng cái việc gọi là xua đuổi những “hồn ma”. Từ đó, cũng theo Lưu Trọng Lư, “cách mạng cơ bản đã thu hút tôi từ buổi đầu, nhưng men yêu ngấm vào người tôi để có thể “lên văn, lên thơ” được, phải kinh qua nhiều ngày tháng” (6) .

            Có hai trở ngại lớn hơn cả là đến với nhân dân lao động ra sao ? và gắn với hiện thực với đời sống cách mạng như thế nào ? Nhiều người thật sự băn khoăn. Họ vốn quen với cái tôi đơn độc và quen với ảo mộng thoát ly. Giờ phải bám vào đời thực của đông đảo quần chúng - những người đang bằng bàn tay và khối óc của mình làm chuyển lay cả thế giới. Ý thức về khoảng cách của những gì cần có và những gì hiện có ở họ thật rõ rệt.

            Đó là những nguyên do chính khiến các nhà thơ từng “vang bóng một thời” trên thi đàn trước Cách mạng tháng Tám khi bước vào cuộc kháng chiến lần thứ nhất của dân tộc còn nhiều lúng túng và chưa thu được những thành tựu đáng kể. Tuy cũng cần nhấn mạnh rằng : “Cái giọng nói bập bẹ” của “mối tình đầu bỡ ngỡ ấy” (Lưu Trọng Lư) thật đáng yêu và thật đáng kể. Đây là bước quá độ không thể thiếu cho những chặng đường thi ca vẻ vang của họ sau này. Rồi Xuân Diệu sẽ có “Riêng chung” (1960), Lưu Trọng Lư sẽ có “Tỏa sáng đôi bờ” (1959), đặc biệt Huy Cận sẽ có “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958), “Đất nở hoa” (1960), “Bài ca cuộc đời” (1963)... và Chế Lan Viên sẽ có “Anh sáng và phù sa” (1960), “Hoa ngày thường, chim báo bão” (1967), “Những bài thơ đánh giặc” (1972)... Nhưng những bước nhảy vọt này sẽ không thể có nếu các nhà thơ không trải qua bước chuyển quan trọng diễn ra vào chín năm kháng chiến thần thánh của dân tộc.

           

                                                                                                         Đà Lạt 7.12.96

 

………………………………………………………………………………………………….

(1) Xuân Diệu - Phê bình giới thiệu thơ - NXB Văn học, H., 1960, tr 73,74

(2) Nhiều tác giả - Chiến trường, sống và viết, NXB Tác phẩm mới, H., 1982, tr 107

(3)  Lưu Trọng Lư - Mùa thu lớn, NXB Tác phẩm mới, H., 1978, tr 147

(4) Nhiều tác giả - Chiến trường, sống và viết, NXB Tác phẩm mới, H., 1984, tr 57

(5) Nhiều tác giả - Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học, NXB Khoa học xã hội, H., 1995, Tr 64

(6) Lưu Trọng Lư, Mùa thu lớn (Sách đã dẫn), Tr 22 và Tr 33