Chế Lan Viên với thi hào Nguyễn Du qua "Di cảo thơ"

            Chủ đề Hội thảo khoa học “Bản sắc dân tộc trong văn học – nghệ thuật” tất sẽ nảy sinh ra vấn đề kế thừa và phát huy di sản văn hóa nghệ thuật dân tộc trong điều kiện mới như thế nào? Tôi nghĩ đến câu thơ của Chế  Lan Viên:

                                Tập đại đi rồi nó sẽ thành

                                Muốn đại thành thì cần phải tập

                                                                (Tập đại thành)

“Tập” trong quan niệm của ông hàm nghĩa học hỏi, không ngừng và nghiêm túc, những giá trị tinh thần quý giá mà các thế hệ đi trước đã tạo lập nên, không chỉ bằng mồ hôi, công sức mà bằng cả xương máu và tính mệnh. Xin được trình bày đôi nét về sự tiếp thu những thành tựu thi ca trong quá khứ hiện thân ở thi tài Nguyễn Du vào chặng cuối con đường sáng tạo của một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu cho diện mạo thi ca dân tộc ở thế kỷ XX – Chế Lan Viên.

                Vào những năm cuối đời, khi nghĩ về truyền thống văn hóa của dân tộc ta, có hai tên tuổi, thường đi liền với nhau, đặc biệt trở đi trở lại nhiều lần trong suy nghĩ của Chế Lan Viên, đó là Nguyễn Trãi  và Nguyễn Du. Bài "Chuyến xe” được Chế Lan Viên viết vào tháng 11/1988:

                                Chuyến xe sau không còn anh nữa

                                Xe chạy nghìn đời chỉ vắng anh thôi

                                Nguyễn Trãi, Nguyễn Du từng đi chuyến trước

                                Những chuyến xe không có khứ hồi

Ông đã thấp thoáng nhìn thấy con đường đi tới cõi vĩnh hằng – nơi linh hồn các danh nhân văn hóa của dân tộc đang yên nghỉ. Trước đó, vào năm 1987, trong lúc sức sáng tạo thi ca còn dồi dào, Chế Lan Viên đã đặt tên tuổi của Nguyễn Du và Nguyễn Trãi vào một trong những tiêu chí quan trọng nhất để xem xét các bậc đại gia:

                                Bể xóa trang Kiều này, bày trang Kiều khác, Nguyễn Du ơi!

Còn trang thơ của Nguyễn Trãi là một lúc máu oà  ra, chứ không phải      

                                                                                nghìn năm rơi thạch nhũ…

                Mỗi nhà thơ viết câu thơ theo số phận mình, chẳng bắt chước ai.

Bài thơ có tựa đề “ Phong cách”.

    Rõ ràng, hai cái tên Nguyễn Trãi, Nguyễn Du luôn sáng lên trong tâm trí Chế Lan Viên. Tuy nhiên, khi cần chọn một hiện tượng văn chương trong quá khứ, chỉ một mà thôi, về thi nhân, ông đã không ngần ngại nghĩ đến Nguyễn Du:

Quả bóng của Lý Bạch, Villon, Nguyễn Du đã sút

Trọng tài thời gian sẽ rút thẻ của anh.

                                                (Đá bóng – 1988)

Dù đó là người đẹp như Tây Thi, như Cléopâtre…

Dù thiên tài như Einstein, Nguyễn Du…

Đều có con nhặng xung quanh đâu đó vo ve

Sẽ bay vào cái thây xám ngắt của mình khi mình tắt thở…

Bài đầu nói về cái hay, bài sau bàn về cái dở ở đời. Bài đầu đặt trong quan hệ lịch đại, còn bài sau đặt trong quan hệ đồng đại để nhận xét mọi lẽ dở hay trong đời.

Ấy là khi chọn thi nhân. Riêng về thi phẩm, Chế Lan Viên dường như dứt khoát và nhất quan trọng chọn lựa: Truyện Kiều.

Không, chính mỗi một người đều đã ngửa mặt nhìn lên và nghe truyện cổ tích

                                                                                                                                hồng hoang trên ấy.

Nghe xong rồi để lại cái gì trước lúc ra đi

Để lại Kiều, để lại Điện Biên, để lại lông ngỗng tình yêu như Mỵ Nương…

                                                                                                (Nghìn lẻ – 2)

Bài thơ anh diễn lên cho người xem trước mắt

Nhưng có người xem từ buồng trò, xem ra  he hé cánh gà…

Cô Kiều, họ biết đấy là cô Kiều Tiền Đường lại là cô gái nào trong xóm

Sông Tiền Đường ờ trong thơ và cũng chảy qua làng

                                                                (Người làng)

Khổ thơ đầu, Chế Lan Viên đặt giá trị văn chương  trong tương quan với các giá trị khác trên đời. Còn khổ thơ  sau ông lại đặt giá trị văn chương trong sự tiếp nhận đặc biệt của một loại độc giả đặc biệt cùng nghề cùng giới với người sáng tạo, hiểu thấu công việc của anh đến từng chân tơ kẽ tóc.

Thật ra, khi buộc lòng phải chọn Nguyễn Du và Truyện Kiều, Chế Lan Viên không mảy may có ý đối chiếu về công lao lớn hay nhỏ đối với nền văn hóa chung của dân tộc. “ Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười” cả thôi! Có chăng, Chế Lan Viên chỉ giới hạn trong địa hạt thi ca mà ngẫm nghĩ. Và riêng ở đây, chẳng lẽ ông không có lý? Từ mấy chục năm trước, trong bài “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" ông đã từng lưu ý: “Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc” và “Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn”. Theo chỗ tôi được biết thì trong các nhà thơ Việt Nam, duy nhất chỉ Nguyễn Du được gọi là “thi hào”, hơn thế là “đại thi hào dân tộc”. Nguyễn Trãi toàn diện,“bách khoa” hơn Nguyễn Du, nói khác đi Nguyễn Trãi lớn theo một kiểu khác, ta tự hào về Nguyễn Trãi theo một kiểu khác.

Cũng thật chí lý khi nói tới Nguyễn Du, Chế Lan Viên nghĩ ngay đến Truyện Kiều của thi hào. Nhà thơ sống với thời gian, sống trong bạn đọc là bằng tác phẩm thành công của chính mình. Trong bài “Kỷ niệm Nguyễn Du” 1986, Chế Lan Viên viết:

Ông đã hóa mây trắng ngang trời hoài niệm

Hóa ra Kiều cao gấp mấy đời ông

Cái quý giá nhất mà một nhà thơ, nhà văn để lại cho đời, cho các thế hệ mai sau là những đứa con tinh thần họ rứt ruột sinh hạ ra, họ đã gửi gắm vào đó biết bao hoài vọng, trăn trở và suy tư về lẽ đời và kiếp người. Ý nghĩa về nhân loại có được cũng nhờ chúng và qua chúng:

Nguyễn Du có ngờ không

Người ta dịch vầng trăng ông

Qua các biên thùy ngôn ngữ

Ông có bao giờ nghĩ

Cỏ non thơ ông xanh

Ra ngoài thế kỷ vẫn còn xanh?

                                (Kỷ niệm Nguyễn Du – 2)

Kể ra, ngoài Truyện Kiều, trong “Di cảo thơ” còn có lần ông viết về bài thơ chữ Hán nổi tiếng của Nguyễn Du – bài “Long Thành cầm giả ca”. Có thể nghĩ về nhiều điều từ bài thơ. Chế Lan Viên muốn nhấn mạnh tới chức phận xã hội cao quý của người nghệ sỹ:

Trong hàng trăm người đến nghe cô đàn

Hình như có một người ấy

Không đủ lụa vàng để thưởng câu hát

Nhưng có giọt lệ rưng rưng trong mắt

Con mắt thẳm sâu nhìn vào mắt cô.

Ngoài sự cảm thông, trước bao thân phận chìm nổi, người nghệ sỹ còn gì nữa đâu! Thế nhưng biết đâu chính nhờ những giọt nước mắt sẻ chia ấy mà con người vùng thoát khỏi cô đơn, tìm thấy nghị lực tự đứng dậy, vững tin mà dấn bước trên đường đời… Thêm một lý do để giải thích vì sao Chế Lan Viên lại bị ám ảnh bởi” Đoạn trường tân thanh” đến vậy! Nhất là vào những năm tháng cuối đời, khi mỗi giây mỗi phút trôi qua ông càng ý thức được dòng chảy xiết nghiệt ngã của thời gian, để quyết  ngăn con đê ùa vỡ bằng các câu thơ mệnh yểu.

Có dịp đọc kỹ “ Di cảo thơ”, ta thấy nhiều khi Chế Lan Viên sử dụng Truyện Kiều như là một thứ chất liệu sáng tạo. Đây là bài “Phản thùng" thật thấm thía khi viết nương theo một câu Kiều:

Khi tất cả đã yên thì mùi hương làm phản

Hoa chết rồi, cây đổ rồi, ong bướm đi rồi

Chỉ còn hòn đa với nơi xưa Kim, Kiều tiễn biệt

Bỗng “hương thừa dường hãy ra vào đâu đây”

Chủ yếu là hình ảnh, hình tượng được Nguyễn Du chạm khắc giờ lại thêm một lần nữa được hoá thân trong thơ Chế Lan Viên. Nổi rõ nhất, hiện lên nhiều nhất là con sông Tiền Đường định mệnh.

Cảm ơn con sông Tiền Đường đánh đắm cô Kiều xấu số (Kiều)

Sông Tiền Đường, ai chẳng đi bên. (Đọc Kiều)

Những cái hôn Kiều đã quên đi

   Thì dưới đáy Tiền Đường nó vẫn nằm kia (Sông Tiền Đường)

Dân tộc trầm luân trong sóng Tiền Đường (Định nghĩa dân tộc)

Cũng dễ hiểu thôi, lúc này là lúc nhà thơ của chúng ta phải chống chọi với tật bệnh để giành giật lại sự sống trong tường sát na.

                    Từ đó, nếu có bảo Chế Lan Viên hít thở dưỡng khí nơi Kiều cũng không  phải là quá lời. Tuy nhiên, ta đặc biệt chú tâm nhiều hơn tới những bài thơ Chế Lan Viên trực tiếp lấy nguồn cảm hứng sáng tạo từ Truyện Kiều. Đó là các bài "Kiều” (4/ 1987), "Đọc Kiều - 3” (1985), “Đọc Kiều, một ngày kia” (4/1987)… Theo ông, có hai cách đọc Kiều:

Có lúc đọc thẳng Kiều, có lúc đọc nghiêng nghiêng,

Đọc thẳng, nghĩ đến Kiều, đọc nghiêng nghĩ về ta vậy.

Điều này được Chế Lan Viên nhắc lại ở một bài thơ khác:

Hồn ta ơi! Hôm nay ngươi thanh bình mà ngày mai giông bão

Trong câu Kiều xưa, ta tìm ra Nguyễn Du mà tìm cả chính mình.

Suy cho cùng, hai cách tiếp cận tác phẩm gắn chặt với nhau: qua thơ để hiểu ta và từ ta mà đến với thơ. Hơn ở đâu, hai chữ “đồng cảm” “đồng điệu” lại cần để tạo dựng không khí thơ đến vậy! Đó là logic bên trong của câu kết bài thơ “Lệ hồi âm” được Chế Lan Viên sáng tác vào năm 1988: Cái Nguyễn Du chờ là giọt lệ hồi âm. Giọt lệ khi vui, nhất là giọt lệ khi đau. (Đau chớ không phải buồn một cách vô cớ, vô duyên!). Hơn một lần trong “Di cảo thơ"  Chế lan Viên nhấn mạnh điều đó. Khi lòng yêu đến đau thì trí tuệ tuyệt vời (Câu hỏi).

Cái lý ở chỗ kiếp người vốn là thế: Một cuộc đời thôi mà biết mấy đa đoan. Cái lý còn ở chỗ lịch sử dân tộc ta vốn cũng là thế: Nhiều tai ương/ Nên phải nhờ thần Kim Quy, nhờ Đạm Tiên, nhờ Bụt… Vậy thì lẽ nào thi ca lại có thể dửng dưng trước nỗi khổ đau cuả đồng loại và đồng tộc? Bài “Cái cây truyền kiếp” được Chế Lan Viên viết để giải quyết câu hỏi ấy.

Cái cây đại thụ âu sầu ấy

Mỗi thế hệ đến lại đục đục, bào bào, cưa cưa, xẻ xẻ

Anh cưa nỗi buồn thiên niên ấy thành ra nhiều mảnh

Đóng ghế, đóng bàn, đóng tủ, đóng săng,

Đóng các tượng thần, đóng cây thánh gía…

Villon cưa, Nguyễn Trãi cưa, Nguyễn Du cưa không ngã. 

Tuyệt nhiên ta không cảm thấy nỗi buăn khuăn về sự “tồn tại hay không tồn tại” của cái buồn đau trong thơ. Vấn đề chỉ là: buồn đau ra sao, thế thôi!

Đã rõ, “Giọt lệ hồi âm” nơi bạn đọc cần đến mức nào đối với người sáng tạo thi ca. Hãy khen chê trong sự chia sẻ, cảm thông ấy để làm nguôi ngoai phần nào nỗi trăn trở có thật của các nhà thơ như Chế Lan Viên.

Phủi hết bao tầng mọt mối

Bỗng gặp tôi lòe chói ở đôi câu

Người kia phủi bụi thêm, đọc lại từ đầu

Bỗng chốc thương người xưa, rưng giọt lệ.

                                                   ( Tôi viết cho người…)

Muốn được vậy, nhà thơ phải sống hết mình với đời sống dân tộc trong chiều sâu của lịch sử, bề rộng của hiện tại cùng nhiều chiều kích khác nhau của tương lai, trong đó, trước tiên phải đắm mình trong nền văn chương dân tộc, để thoát thai trong sự sáng tạo, sự đổi mới không ngừng:

Hãy nghĩ các vị thầy sẽ về đọc anh

Đó là Nguyễn Du, Nguyễn Trãi…

Các vị thích gì?

Thích anh không nhai lại các thầy xưa.

                                                   (Có kịp không)

Vâng, đó là mối quan hệ hai chiều mà không phải ai và lúc nào cũng giải quyết được thấu đáo. Và, một khi việc giải quyết mối quan hệ đó có vấn đề thì xin hãy nghĩ về Nguyễn Du  như Chế Lan Viên từng nghĩ:

Không có Du, thế kỷ này đành tay không

Mà Du cũng tay không, nếu không có mưa ấy, sông này, trăng kia, cỏ nọ…

Đây có lẽ là một trong những điều thấm thía nhất mà Chế Lan Viên đã rút ra trong suốt chặng đường thơ dằng dặc năm mươi năm của mình.

 

                                                                                                                                               Đà Lạt, 29/11/2000