Đọc lại ý kiến của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ

Hồ Chí Minh nói và viết không nhiều về văn hóa, văn nghệ. Tuy nhiên, lời Người thường thấm thía, nhất là rất thiết thực đối với đương thời. Ngày nay, có dịp đọc và ngẫm lại, ta thấy nhiều điều Người nêu ra ở thời trước vẫn còn nguyên giá trị đối với thời nay. Tôi xin được nhắc lại một đôi điều tâm đắc nhất.

Không mấy người không nhớ tới một quan niệm có tính nguyên tắc trước sau như một của Hồ Chí Minh về văn hoá, văn nghệ, rằng: “Chắc có người nghĩ: Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị. Đúng lắm. Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” (1, tr.68). Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước chân chính, một nhà cách mạng lỗi lạc. Người luôn xem văn nghệ là một bộ phận đặc thù của sự nghiệp cách mạng, nghệ sỹ là người cán bộ thực hiện nhiệm vụ cách mạng trên lĩnh vực và theo sứ mệnh của mình. Đáng tiếc là có lúc, có nơi, có người vô tình hoặc cố ý xem nhẹ hay quên đi tính chất đặc thù của văn nghệ. Hẳn nhiên, văn nghệ cần hữu ích đối với quần chúng cách mạng và sự nghiệp cách mạng. Song không nên quên đây là một lĩnh vực riêng của đời sống. Nó có những đòi hỏi riêng nhằm tạo ra những hiệu quả riêng. Khi văn nghệ không còn là văn nghệ nữa thì chẳng ai cần đến nó cả. Nói như Maiakovxki: “Tôi là một nhà thơ, chính vì lẽ ấy mà tôi trở nên có ý nghĩa”. Nhà thơ vô sản vĩ đại còn khẳng định: “Tôi muốn rằng người ta cầm ngòi bút và cầm lưỡi lê trên cùng một đôi chân” (Văn nghệ, Số 29, 16 / 7 / 1983).

Khi nêu ra phương châm “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy” trong Thư gửi các họa sỹ năm 1951, Hồ Chí Minh không rời xa tính đặc thù của văn nghệ. Chẳng thế mà 8 năm sau, tại Đại hội Lần thứ 2 Hội Nhà báo Việt Nam, nhân bàn về một trong những khiếm khuyết đáng nói nhất của văn nghệ khi ấy, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn chỉ rõ: “Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài” (1, tr.92). Rất nhiều thói tật chung quanh nhận thức chính trị và thể hiện những vấn đề chính trị của người nghệ sỹ. Đáng phàn nàn là thói quen nhắc lại một cách máy móc, “rập khuôn” chỉ thị, nghị quyết của Đảng, không vận dụng theo tinh thần sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể, riêng biệt của lĩnh vực mình. Đáng phàn nàn hơn nữa là căn bệnh “khô khan”. Lĩnh vực khác, như lĩnh vực tuyên truyền, khô khan đã không mấy tác dụng. Riêng lĩnh vực văn nghệ mà không sinh động, không truyền cảm thì còn gì là văn nghệ! Vì vậy, trong bài phát biểu tại Lễ bế mạc Đại hội liên hoan anh hùng chiến sỹ thi đua Toàn quốc lần thứ 3, ngày 6 / 5 / 1962, bên cạnh việc nhắc nhở: “Trong Đại hội này, chưa nêu rõ vai trò quan trọng của những cán bộ làm báo và cán bộ nghệ thuật trong việc phục vụ phong trào thi đua yêu nước và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh đồng thời yêu cầu: “Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người, những việc ấy, bằng văn, bằng thơ, bằng vẽ và bằng các nghệ thuật khác… để cổ vũ đồng bào ta và để giáo dục con cháu ta” (1, tr.103).

Những điều Hồ Chí Minh nói và viết là những gì mà bản thân Người từng suy ngẫm, nhất là từng trải nghiệm. Ở Người, không thấy ranh giới giữa nghĩ và nói, giữa nghĩ, nói và làm. Những bậc hiền triết Á Đông bao giờ cũng thế! Họ thật sự vươn tới chân tri để có thể thật sự được giải thoát về nhận thức, thật sự vươn tới vương quốc của tự do chân chính. Tôi nhớ tới lời tâm sự chân thành của Hồ Chí Minh tại Đại hội 2 Hội Nhà báo Việt Nam (1959): “Khi đi qua Liên Xô, đồng chí L. phóng viên tờ báo “Tiếng còi” bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật… Cách đấy mấy năm, mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình viết. Nhưng L. lại bảo: Chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác… còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc” (1, tr.98). Viết cho “văn chương”, nghĩa là cho hấp dẫn, vì thời trước khác, thời nay khác. Không văn chương, ít văn chương người ta không đọc, hoặc có đọc cũng không thấm. Mà như thế thì khó chuyển thành hành động triệt để. Chuyện này liên quan tới điều tâm đắc thứ hai của tôi: văn chương và sự hiểu của công chúng.

Các phương châm khoa học hóa, dân tộc hóa, đại chúng hóa mà Đề cương văn hóa 1943 của Đảng nêu ra là hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh nước ta thời bấy giờ. Đã không ít người làm văn hóa, văn nghệ lúc này lúc khác nhìn nhận vấn đề còn sai lạc, như Trương Tửu. Trong Nhà văn và cách mạng viết tháng 8 năm 1946, ông cho rằng: “Từ tiết ngâu trước đến tiết ngâu này được mùa cách mạng thì mất mùa văn chương…” Theo ông, ấy là bởi “từ khi có những khẩu hiệu này thì các nhà văn sáng tác đã bối rối lại càng bối  rối thêm” (2). Rất cần khẳng định lại những phương châm chỉ đạo quan trọng ấy, để quán triệt thật dứt khoát trong suy nghĩ và trong hành động của những người làm văn hóa, văn nghệ trong công cuộc kháng chiến, cứu quốc. Ngay từ tháng 10 / 1947, trong cuốn Sửa đổi lề lối làm việc, Hồ Chí Minh đã tập trung phân tích, phê phán “thói ba hoa”. Một trong những biểu hiện đáng nói nhất của thói tật ấy là“nói không ai hiểu”. Người viết: “Đảng thường kêu gọi khoa học hóa, dân tộc hóa, đại chúng hóa. Khẩu hiệu đó rất đúng. Tiếc vì nhiều cán bộ và Đảng viên có hóa gì đâu! Vậy cứ chứng cũ, nếp cũ đó. Thậm chí, miệng càng hô ‘đại chúng hóa’, mà trong lúc thực hành thì lại ‘tiểu chúng hóa’” (1, tr.61). Nhiều người nhắc lại lời dặn này mà thoát ly hẳn văn cảnh, xem như là một đòi hỏi chung, bắt buộc đối với cả những người cầm bút viết văn. Đi đâu, ở đâu họ cũng nhấn mạnh tới yêu cầu dễ hiểu của văn chương, nghệ thuật. Thậm chí xem đó là yêu cầu hàng đầu, yêu cầu tối cao. Xin được lưu ý, ở đây, Hồ Chí Minh đang nói với cán bộ trong việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng cho đông đảo quần chúng. Chẳng thế, trước đó, Người lưu ý: “Tục ngữ nói ‘gẩy đàn tai trâu’ là có ý chê người nghe không hiểu, song những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu, thì chính người đó là ‘trâu’” (1, tr.57).  Tuyên truyền phải quan tâm tới tâm lý, đặc biệt là trình độ của người nghe. Sau Cách mạng tháng Tám, đa phần dân ta còn chưa biết chữ. Nhận thức về mọi mặt, trong đó có chính trị còn rất thấp. Người tuyên truyền mà không lưu tâm tới điều này thì không thể có hiệu quả, thậm chí dễ bị hiểu sai, hiểu lệch. Không đạt được mục đích, có khi lại còn phản tuyên truyền.

        Ở đây liên quan tới việc giải quyết cho đúng mối quan hệ giữa phổ cập và nâng cao. Hồ Chí Minh viết: “Đề cao là thế nào? Đề cao là nâng cao lên. Nhưng muốn nâng cao lên thì phải ở đâu mà nâng lên, nếu ở giữa ‘khoảng không’ mà nâng lên thì cũng không cao mà cũng chẳng thấp. Thế là nói: trước phải phổ biến, nghĩa là trước hết phải có cái nền, rồi từ cái phổ biến ấy, cái nền ấy mà nâng cao lên” (1, tr.86). Vậy là, một khi trình độ về mọi mặt của người đọc được nâng lên, thì trình độ của văn chương, nghệ thuật cũng không được phép ở mức như trước nữa. Đấy là chưa nói tới vai trò của các nhà văn chuyên nghiệp đối với sự sáng tạo của quần chúng rộng rãi. Ngay trong văn kiện trên, Hồ Chí Minh còn dạy: “Các cán bộ văn hóa cần phải giúp những sáng tác của quần chúng. Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý. Muốn làm như thế thì cố nhiên là phải có chính trị, có kỹ thuật thì mới mài cho viên ngọc ấy thành tốt, khéo và đẹp” (1, tr. 85). Có thể thấy rõ là Người luôn có ý thức phân biệt sáng tạo nghệ thuật chuyên nghiệp với sáng tác nghệ thuật nghiệp dư. Vai trò của từng lọai họat động nghệ thuật ấy trong nhận thức của Người cũng rất rành rẽ.

Vậy là, đúng như Hồ Chí minh đã nói, “xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy”. Giờ xã hội đã thay đổi, toàn diện, sâu sắc và triệt để, văn nghệ không thể không thay đổi. Trên mọi phương diện, không hạn chế một phương diện nào cả. Không thế, văn chương ta làm sao có thể đáp ứng được những đòi hỏi ngày một cao, ngày một khe khắt của bạn đọc trong thế kỷ mới.

                                                   

                                                                                                                                   Đà Lạt, 5/5/2005

                                                                       

………………………………………………………………………………………...................................................................................

1. Nhiều tác giả - Về văn hóa văn nghệ, Nxb Văn hóa. H. 1976.

2. Hoài Thanh – Thực chất của tư tưởng Trương Tửu, Tạp chí Văn nghệ, Số 11, 1958.