Bài học tự rèn luyện trong "Nhật ký trong tù"

Phê bình - tự phê bình, giáo dục - tự giáo dục bao giờ cũng là những động lực to lớn tạo nên sức mạnh thống nhất của một tập thể, một tổ chức. Trong động lực này, tự phê bình, tự giáo dục phải được xem là nền tảng, vì chỉ thông qua chúng, phê bình và giáo dục mới đạt được hiệu quả về nhận thức, tư tưởng và hành động trên thực tế. Trong xã hội hiện đại, khi vai trò của từng cá nhân trong xã hội luôn được tỏa sáng thì quy luật đó càng bộc lộ rõ rệt. Vậy nên, trong một mức độ nào đấy, khi nói đến phê bình đã là bao hàm tự phê bình, khi nói đến giáo dục là đã bao hàm tự giáo dục, tựa như khi nói đến quá trình đào tạo đã là bao hàm quá trình tự đào tạo vậy. Hai câu kết của bài “Nửa đêm”, Hồ Chí Minh viết:

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên(*)

Ta nên hiểu từ “giáo dục” theo tinh thần trên.

Quá trình tự phê bình, tự giáo dục gắn liền với quá trình tự rèn luyện của mỗi cá nhân. Một trong những bài học khiến chúng ta đặc biệt thấm thía khi đọc “Nhật ký trong tù” là tấm gương luôn ngời tỏ của Hồ Chí Minh trong khả năng tự rèn luyện nhằm vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt, vươn tới chế ngự bản thân, chế ngự hoàn cảnh.

Xin được nói ngay, Người không bao giờ quên mặt thể chất ở ý thức tự rèn luyện của con người. “Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”. Huống hồ, Người đã trải qua “Mười bốn trăng tê tái gông cùm” (Tố Hữu) nơi nhà tù độc ác vào bậc nhất của Tưởng Giới Thạch. Sự hao mòn về thân xác đâu có nhỏ. Vậy mà, vừa “mới ra tù” Người đã “tập leo núi”. Trước đó, khi bị giam cầm, Người tranh thủ từng cơ hội để rèn luyện thân thể:

Nghỉ lâu, chân tựa bông mềm nhũn

Đi thử, hôm nay muốn ngã quay;

Người duy vật không bao giờ tách sự hiện diện của yếu tố tinh thần ra khỏi sự tồn tại của nhân tố vật chất. Thân thể có lành mạnh tinh thần mới khỏe khoắn.

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh bị giam cầm, cái chính yếu cần rèn luyện là ở mặt tinh thần, mặt ý chí. Đó là nguyên cớ sâu xa thúc đẩy Người viết bài thơ mang sức bao quát lớn - bài “Bốn tháng rồi”:

Bởi vì:

Bốn tháng cơm không no…

Cho nên:

Răng rụng mất một chiếc…

Điểm tựa của bài thơ bật ra ở khổ kết, đúng ra là ở hai câu kết:

Vật chất tuy đau khổ

Không nao núng tinh thần

Không phải ngẫu nhiên hai trong bốn câu thơ chép ở bìa “Nhật ký trong tù” lại là:

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần phải càng cao

Trong nguyên bản, Hồ Chí Minh dùng hai chữ “đại”: “Tinh thần cánh yếu đại” đối với “Dục thành đại sự nghiệp”. Không thể có sự nghiệp lớn nếu không có ý chí lớn. Người đã khẳng định vậy, và thực tế đông tây kim cổ xác nhận vậy! Và ta không sợ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí, lúc nào và ở đâu cũng một mực đề cao yếu tố quyết định là tinh thần. Bởi, với Hồ Chí Minh, ý chí luôn gắn với hành động, ý chí lớn đi liền với hành động mạnh mẽ, triệt để theo “mục đích trước sau như một” mà bản thân đã lựa chọn và nguyện theo đuổi suốt đời. Với Hồ Chí Minh, mục đích ấy không gì khác hơn là độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, thống nhất cho đất nước, và lẽ công bằng, tình thân ái cho hết thảy những người lao động trên đời. Người biết, để đạt được mục tiêu lớn lao, cao quý đó phải trải qua một con đường dài, đầy gian lao và thử thách. Nhiều lần trong tập thơ, Hồ Chí Minh xác định tâm thế ấy. Trong bài “Tảo giải”, Người viết:

Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng

(Người đi xa đã cất bước trên đường xa)

Người tự gọi mình là “chinh nhân” trong cuộc hành trình “chinh đồ” với“Giầy rách, đường lầy, chân lấm láp/ Vẫn còn dấn bước dặm đường xa”(Mưa lâu). Xác định như thế để tránh nôn nóng đốt cháy giai đoạn. Thắng lợi của chặng này là điều kiện tạo ra thắng lợi của chặng sau lớn hơn, và tất cả đều nhằm tới thắng lợi cuối cùng nằm rất xa ở phía trước. Người còn không quên nhắc nhở:

Đường gay, cuối chặng lại thêm gay

     (Giam lâu không được chuyển)

Cũng như sau này Người luôn căn dặn chiến sĩ và đồng bào: “Càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan”. Người cách mạng cần phải chủ động đón nhận những gian nan tất yếu ấy. Trong bài “Tảo giải”, Hồ Chí Minh còn viết:

Nghênh diện thu phong trận trận hàn

Có người dịch: “Rát mặt, đêm thu trận gió hàn” là không đúng với tư thế tích cực, rất tích cực của người viết. Hồ Chí Minh dùng từ “nghênh diện”, nghĩa là đưa mặt mình hướng ra phía trước đón từng đợt, từng đợt gió lạnh buốt của mùa thu phương Bắc.

Như vậy, mọi thành công trong cuộc đời, mọi thắng lợi trong sự nghiệp không bao giờ đến dễ dàng. Kết quả càng lớn, thách thức càng nhiều, càng cam go, càng dai dẳng. Đó là “quy luật của muôn đời”:

Gạo đem vào giã bao đau đớn,

Gạo giã xong rồi trắng tưạ bông;

Sống ở trên đời người cũng vậy,

Gian nan rèn luyện mới thành công

                                             (Nghe tiếng giã gạo)

Bài thơ thật sự trở thành phương châm sống của nhiều người. Có thể một ai đó cho rằng triết lý sống ở đây thật giản đơn, như dân gian thường nói: “Lửa thử vàng gian nan thử sức”. Cũng có thể! Chỉ có điều triết lý ấy sở dĩ có sức sống, sức lan truyền mạnh mẽ là bởi Hồ Chí Minh đã tự rút ra từ cuộc đời sôi nổi, cao đẹp và thật giàu ý nghĩa của chính mình. Hãy trở lại với những năm tháng Người bị đọa đày trong lao tù, không chỉ khổ đau về thể xác mà còn bị đày đọa về tinh thần:

Ngoài phố tranh nhau xem Hán gian

Hán gian, ta chẳng chút liên can

                                                 (Trên đường phố)

Rồi cái lạ lùng khó tin đã xảy ra khi “Đoàn đại biểu Anh sang thăm Trung Hoa”:

Ta cũng một đoàn thăm quý quốc,

Lại dành riêng một lối hoan nghênh

Đôi khi Người ngậm ngùi rơi lệ, những giọt lệ đớn đau và chua xót. Nhưng phải nói rằng, mảng màu chính trong “Nhật ký trong tù” là mảng màu sáng được vẽ nên bởi một người ung dung tự tại, mang một ý chí thép dường như không gì lay chuyển nổi. Một loạt bài thơ như: “Đêm ngủ ở Long Tuyền”, “Mới đến nhà lao Thiên Bảo”, “Đi Nam Ninh”, “Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh”, “Hoàng hôn”… được cấu tứ theo một kiểu dạng chung: Thân thì tù mà hồn thì tự do. Nổi bật nhất là bài “Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh”:

Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh

Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình

Làng xóm ven sông đông đúc thế

Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh

Một bản lĩnh khác thường. Con người ấy luôn ung dung, tự tại, bất chấp mọi khó khăn, thiếu thốn, đày đọa và hiểm nguy. Đó quả là “Khách tự do” (Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây) là “Tiên khách” (Qua trưa) là “Chim bằng” (Tết song thập bị giải đi Thiên Bảo) như Người nhận mà không hề vấn vương một chút cao đạo. Ấy là do Hồ Chí Minh đã biết thấm nhuần quy luật. Người là hiện thân của thứ tự do đích thực mà nhân loại ao ước và hướng tới. Trong “Ngục trung nhật ký”, Hồ Chí Minh từng viết: “Khổ tận cam lai, lý tự nhiên”(Tình thiên). Nghĩ cho cùng, chỉ qua ý chí và khả năng tự rèn luyện của mỗi người, cái “lý tự nhiên” mới trở thành hiện thực. Càng đọc Hồ Chí Minh, ta càng có điều kiện thấm thía bao đạo lý ở đời là vì thế.

                                                                                                                       Đà Lạt -  Những ngày tháng Tám 

 


(*) Hồ Chí Minh - Nhật ký trong tù, Nxb Văn học H.1983. Tất cả dẫn chứng trong bài đều rút từ đây.