Lời "tri âm" của Lưu Hiệp

 

            Tri âm là thiên thứ  48 của Văn tâm điêu long, một trong những tác phẩm lý luận phê bình được xem là hoàn chỉnh và hệ thống nhất trong lịch sử mỹ học Trung Quốc thời trung đại. Tác giả công trình này là Lưu Hiệp, người Sơn Đông, sống vào khoảng 465-520. Ông đã dành tới 30 năm để viết Văn tâm điêu long, “tác phẩm chứa đủ tinh hoa của muôn đời” (Tôn Mai - “Tứ lục tùng thoại”), là “kho báu ở chốn văn tuyền... Phàm kẻ sỹ muốn trau chuốt văn chương... chưa ai có thể xa rời mà đi tìm lối dẫn dắt khác để đến đích được” (Thúc Lâm).

            Tri âm (nghĩa là hiểu tiếng đàn) được nảy sinh từ điển cố quen thuộc về mối quan hệ giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ. Theo Liệt Tử, Bá Nha là người giỏi đánh đàn, còn Chung Tử Kỳ là người sành nghe đàn. Khi chơi đàn, Bá Nha nghĩ đến núi cao thì Chung Tử Kỳ liền khen: “Cao vòi vọi, như núi Thái sơn”. Bá Nha nghĩ tới sông nước thì Chung Tử Kỳ khen: “Mênh mông như Trường Giang, Hoàng Hà”. Chung Tử Kỳ   thấu hiểu mọi tình ý được Bá Nha bày tỏ qua tiếng đàn. Sau khi Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha treo đàn không đánh nữa vì cho rằng trên đời không còn ai hiểu nổi tiếng đàn của mình.

            Tuy nhiên, ý nghĩa của từ Tri âm sau này không chỉ để thể hiện mối giao cảm giữa người biểu diễn và người nghe trong âm nhạc, mà mở rộng ra thành mối giao hòa giữa người sáng tác và người thưởng thức trong nghệ thuật giữa người với người nói chung.

            Lưu Hiệp lấy Tri âm đặt cho thiên chuyên bàn về phê bình văn chương là vì vậy! Chính Lưu Hiệp đã viết: “Người gẩy đàn trong lòng nghĩ đến nước non, thì tiếng lòng của mình hiện lên trong tiếng đàn, huống hồ văn chương viết bằng bút thì làm sao giấu kín được đạo lý trong đó.”

            Trong Tri âm, các ý kiến của Lưu Hiệp về phê bình văn chương  khá đa diện và xác đáng, lại được viết chặt chẽ, khúc chiết, giàu hình ảnh nên sức thuyết phục càng cao hơn. Trước tiên là về vai trò của phê bình. Cho tới giờ chung quanh vấn đề này chưa phải đã hết những quan niệm lệch lạc cần được trao đổi. Có người, trong thâm tâm và cả qua lời nói tỏ ra xem thường phê bình. Họ bảo nghề “phê bình” là nghề “ăn theo” sáng tác, thậm chí là nơi trú ngụ cuối cùng của những nhà văn “bất lực” hoặc “tàn hơi”. Thảng hoặc, một số người khác lại đề cao quá đáng phê bình, đến nỗi những nhà phê bình còn chút tỉnh táo đều cảm thấy “đỏ mặt”. Họ bảo phê bình là “linh hồn” của nền văn chương dân tộc, còn nhà phê bình thì “điều khiển” nhà sáng tác... vân vân và vân vân. Không nhắm mắt đề cao một chiều phê bình, Lưu Hiệp nói rất có lý rằng: “Sách hay đầy hòm nhờ được nhà phê bình lỗi lạc giám định”. Muốn nhận rõ sách có giá trị hay không, giá trị đến mức nào cần phải và cần biết “giám định” khen chê. Từ đó, phê bình góp phần định hướng sáng tác và cảm thụ văn chương. Đấy là phạm vi hẹp, cụ thể. Rộng và bao quát hơn, cả nền văn chương đương thời của một dân tộc cũng thế. Ông viết: “Thư tịch văn học là tinh hoa của đất nước, phải hiểu một cách sâu sắc cẩn thận, mới thấy được hết sự huyền diệu của nó”. Vậy mà muốn “hiểu một cách sâu sắc cẩn thận” lại không thể thiếu hoạt động phê bình, nhất là hoạt động của những nhà phê bình chuyên sâu, những nhà phê bình “chính xác”, “lỗi lạc” như cách gọi và đòi hỏi của Lưu Hiệp. Vì sao vậy ? Vì phê bình vốn là công việc không mấy dễ dàng. Một ai cho phê bình xác đáng một tác phẩm là chuyện dễ thì không nên cầm bút viết phê bình. Thực tế không như họ nghĩ. Lưu Hiệp cho rằng: “Tri âm thực là khó gặp. Gặp được người tri âm nghìn năm mới có một lần”.

            Cái khó mà không phải cây bút phê bình nào cũng có thể vượt qua được ấy là do văn chương và quá trình tiếp nhận văn chương tạo ra. Lý giải hiện trạng này, Lưu Hiệp viết: “Tác phẩm văn học sở dĩ phức tạp cố nhiên là do sự đa dạng hóa nội dung và hình thức”. Mỗi tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng mang vẻ riêng, không lặp lại, như một sản phẩm độc nhất vô nhị. Có thể nói văn chương muôn màu như chính cuộc đời. Trong khi kinh nghiệm, tri thức của nhà phê bình lại hữu hạn. Tiếp nhận và bình giá sao đây là cả một vấn đề nan giải. Do vậy, một nhà phê bình lịch lãm cần biết giới hạn của mình. Đó có lẽ là chất văn hóa cao nhất của nhà phê bình. Không ai trách cứ nhà phê bình sao không biết hết mọi chuyện. Người ta chỉ trách nhà phê bình không biết đến nơi đến chốn lại dám lên tiếng, vậy thôi. Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, thế mới là người biết - Cổ nhân đã dạy thế rồi. Hơn nữa, nhà phê bình (dẫu là thiên tài) cũng như bao người bằng da bằng thịt khác luôn có sở thích, ý hướng riêng. Một người thông minh không bao giờ dám chắc là có thể dễ dàng vượt qua được chính mình.Tực như, thật khó bước qua được cái bóng của bản thân! Ý kiến sau của Lưu Hiệp quả thấu lý: “Độc giả thưởng thức, bình luận thường thường mỗi người có sự thiên lệch khác nhau, không thể đánh giá toàn diện được. Ví dụ như người khẳng khái gặp thanh điệu cao thì gõ ngay, người thích hàm súc đọc tác phẩm súc tích chặt chẽ thì như muốn nhảy theo, kẻ có tý thông minh thấy văn chương hoa mỹ thì rung động, người hiếu kỳ thấy sự vật mới lạ thì thích nghe! Phàm là những tác phẩm hợp bởi khẩu vị của mình thì khen ngợi, không hợp với mình thì chê bai. Mỗi người đều lấy kiến giải phiến diện của mình để đánh giá văn chương muôn màu muôn vẻ. Giống như người chỉ nhìn về phía Đông mà không thấy bức tường phía Tây vậy”. Thưởng thức văn chương không ai hoàn toàn giống ai. Thêm một ngáng trở nữa khiến cho việc bình văn, bình thơ vốn đã khó càng nhiều lần khó hơn. Vì thế, nhà bác học Lê Qúy Đôn ở ta mới cho rằng: “Văn chương là của công thiên hạ, ý kiến mỗi người mỗi khác, phân tách thì được chứ không nên chê mắng” (Điều 33, Văn nghệ).

            Vậy là giữa hai học giả họ Lê của Việt Nam và họ Lưu của Trung Quốc có một điểm gặp gỡ quan trọng và rất có ý nghĩa. Phê bình  tác phẩm văn chương thật là khó nhưng không thể “bất khả tri”. Có thể cảm nhận “phân tách” được ý tình của người viết qua ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu... nghĩa là qua tất cả các yếu tố hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Quy trình cảm thụ tác phẩm có phần ngược chiều với quy trình sáng tạo tác phẩm, được Lưu Hiệp diễn giải như sau: “Nhà văn trước tiên phải có hoạt động nội tâm, rồi sau đó mới thể hiện vào trong tác phẩm. Độc giả lại phải đọc tác phẩm trước sau mới đi vào nội tâm của tác giả”. Từ đó, ông vững tin vào tính khoa học của hoạt động phê bình: “Từ hạ lưu đi lên tìm thượng nguồn, thì dù có kín đáo đến mấy cũng nhất định làm sáng tỏ”. Ngay cả các tác phẩm cổ xưa mà để tiếp cận được cần có thêm những điều kiện khác nữa, cũng không ra ngoài quy luật trên: “Niên đại đã xa rồi, cố nhiên không thấy được bộ mặt. Nhưng đọc tác phẩm ắt sẽ thấy được tấm lòng của tác giả”.

            Thử thách chủ yếu lại thuộc về bản lĩnh và phẩm chất nhiều mặt của nhà phê bình. Với Lưu Hiệp, điều kiện cho những trang phê bình “tuyệt bút” rất cao và rất nhiều. Đã đành học vấn phải uyên bác. “Lẽ nào sợ tác phẩm sâu xa? - Ông viết - Chỉ sợ mình kiến thức nông cạn đó thôi”. Ông còn viết: “Phương pháp đánh giá tác phẩm là quan sát một cách rộng rãi, xem núi cao càng tỏ gò đống, đến biển mới biết được ngòi rãnh”. Sự học, sự hiểu càng cao sâu, sự cảm nhận, xem xét càng có điều kiện thuyết phục. Học vấn mà Lưu Hiệp bàn tới không giới hạn trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật. Vì đối tượng của văn chương, nghệ thuật phong phú như chính cuộc đời. Tuy tri thức về văn chương, nghệ thuật lại có vai trò thật quyết định. Đúng hơn, nhà phê bình phải có kinh nghiệm nghệ thuật sâu rộng. Ông viết: “Chỉ có người chơi đàn ngàn bản nhạc mới hiểu được âm nhạc. Những người xem hàng ngàn  lưỡi kiếm mới biết vũ khí”.

            Để có thể nắm bắt cả những cái hiển hiện dễ nhận ra lẫn những cái mờ ảo khó lưu giữ  của tác phẩm, nhà phê bình nếu không từng hoặc không đồng thời là nhà sáng tác thì phải tự tìm hiểu lao động đặc thù của nhà văn để cảm nhận mọi lẽ nông sâu, buồn vui, sướng khổ của nghề văn. Kinh nghiệm nghệ thuật do vậy liên quan mật thiết tới tư chất nghệ sĩ ở nhà phê bình. Phê bình vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Năng lực cảm thụ của nhà phê bình phải cao hơn người khác. Mà chuyện thưởng văn thưởng thơ không phải chỉ là chuyện của lý trí. Cảm xúc, rung động đóng một vai trò không nhỏ. Cố nhiên lý và tình hòa quyện, nâng đỡ cho nhau. Tình làm lý thêm tinh tế, sâu sắc. Lý làm tình thêm cháy bỏng, lắng đọng. Lời bàn của Lưu Hiệp thấm thía là vậy. Ông viết:  “Chỉ có những người am hiểu sâu sắc, có thể thấy được ý nghĩa sâu xa của tác phẩm, nhất định gợi lên niềm vui trong lòng lúc thưởng thức kiệt tác - PQT lưu ý”.

            Một đòi hỏi khác, Lưu Hiệp muốn nhấn mạnh ở nhà phê bình, là sự công tâm, trong sáng. Ông viết: “Vô tư với khinh trọng, không thiên lệch yêu ghét. Như vậy mới sáng rõ như gương”. Muốn “sáng” mắt, lòng phải “sáng”, phải thật “sáng”. Cái đạo này thể hiện rất rõ trong phê bình nghệ thuật. Và khi “con mắt sáng thì hình dáng gì cũng phân biệt được” - Lưu Hiệp viết như vậy. Thật giản dị mà cũng thật chân xác.

            Có được các điều kiện nói trên nhà phê bình dễ tránh được những khuynh hướng lầm lạc trong phân tích bình giá tác phẩm. Lưu Hiệp đã chỉ ra ba khuynh hướng nên tránh trong phê bình.

            Một là “trọng xưa rẻ nay”. Ông viết: “Những nhà phê bình xưa nay hay coi thường người cùng thời và ngưỡng mộ người xưa”. Để chứng minh điều đó, Lưu Hiệp dẫn ra các trường hợp Tần Thủy Hoàng với Hàn Phi Tử, Hán Vũ Đế với Tư Mã Tương Như : “Ngày xưa thiên “Trừ thuyết” của Hàn Phi Tử vừa mới ra đời, “Tử hư phú” của Tư Mã Tương Như vừa viết xong, Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế than rằng không được sống cùng thời với hai tác giả đó. Nhưng sau Tần Thủy Hoàng được gặp Hàn Phi Tử, Hán Vũ Đế được găp Tư Mã Tương Như. rốt cuộc Hàn Phi Tử bị cầm tù, Tư Mã Tương Như bị lãnh đạm”. Thế rồi, Lưu Hiệp hạ bút kết luận : “Những kẻ kiến thức sao siêu” như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế mà “vẫn không tránh khỏi qúy cổ khinh kim”. Nên căn bệnh này thật là chứng “nan y”.

            Hai là: “Trọng mình khinh người”. Khuynh hướng này thường có ở các nhà sáng tác viết phê bình. Thực tế không ít nhà thơ, nhà văn viết phê bình. Nhiều người trong số họ nổi tiếng bởi những trang phê bình giàu sức cuốn hút. Song do tính chủ quan vốn có ở các nhà sáng tác, những lời bàn của họ dễ cực đoan, thiên lệch. Nhất là họ thường tinh nhạy với khiếm khuyết ở người hơn là ở mình. “Văn mình...”, câu nói đó đúc kết một thực tế khá phổ biến. Đi vào lịch sử, Lưu Hiệp dẫn ra hai trường hợp tiêu biểu : Ban Cố với Phó Nghị và Tào Thực với Trần Lâm. Ở họ “văn tài” là “tương đương”. Thế mà Ban Cố lại “mỉa mai” Phó Nghị - nhà thơ phú nổi tiếng thời Đông Hán; Tào Thực lại “chê bai” Trần Lâm - một trong những “Kiến An thất tử” của thời Hán.

            Ba là: “Nói càn, nói bừa”. Đó là những cây bút phê bình kiến thức nông cạn, lại không chịu tìm hiểu đến nơi đến chốn đã vội cao giọng giảng giải, bình luận. Họ là những người thiếu tôn trọng với người và thiếu tự trọng với mình. Đáng tiếc những cây bút phê bình loại này không phải là ít. Lưu Hiệp nêu ra trường hợp Lâu Hộ - một biện sỹ cuối đời Tây Hán : “Còn như Lâu Hộ vì lợi khẩu mà lại ngang nhiên tùy tiện phê bình văn học. Nói rằng: Quan Thái sử lệnh Tư Mã Thiên viết “Sử ký” có thỉnh giáo Đông Phương Sóc. Thế rồi bọn Hoàn Đàm (học giả nổi tiếng thời Đông Hán) quay lại chế giễu Lâu Hộ rằng : Lâu Hộ chẳng có địa vị gì mà phát ngôn bừa bãi, bị người đời chê cười”.

            Đó là ba căn bệnh trầm kha của phê bình xưa nay mà theo Lưu Hiệp là thật “đáng than”. Muốn tránh xa những khuynh hướng lệch lạc vừa nêu, Lưu Hiệp đề nghị nhà phê bình phải thường xuyên trau dồi về mọi phương diện trong đó có phương diện nghề nghiệp. Bởi phê bình dẫu sao cũng là một nghề. “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”. Nghề phê bình gắn chặt với tác phẩm văn chương - một sản phẩm tinh thần đặc thù đòi hỏi cách tiếp cận cũng phải đăc thù. Lưu Hiệp đưa ra sáu tiêu chí (lục quán) để xem xét tác phẩm. Ông viết: “Muốn xem xét tình cảm và tư tưởng trong văn chương, thì trước hết phải theo sáu mặt để mà quan sát sau : Một là “Vị thể” (chỉ nội dung, tư tưởng của tác phẩm); hai là  “Trí từ” (dùng từ đặt câu); ba là  “Thông biến” (tính khoa học và sáng tạo của nội dung và hình thức); bốn là “Kỳ chính” (bố cục và hành văn có theo quy cách không); năm là  “Sự nghĩa” (điển cố và dẫn chứng có thỏa đáng không); và sáu là “Cung thương” (âm điệu có hài hòa không). Dễ nhận ra cái nhìn toàn diện, sâu sắc của nhà lý luận Lưu Hiệp. Cái nhìn ấy thấm đậm trong toàn bộ tác phẩm Văn tâm điêu long và nói riêng trong thiên Tri âm, làm nên giá trị dài lâu của tác phẩm lý luận hệ thống vào bậc nhất trong lịch sử mỹ học mấy ngàn năm của Trung Quốc. Ngày nay, đọc lại những lời bàn luận cách đây chừng 1500 năm của Lưu Hiệp, chúng ta vẫn rút ra được nhiều bài học bổ ích và lý thú cho cả phê bình lẫn sáng tác văn chương.

                                                                                                                                    Đà Lạt, 10-10-1996