Đôi điều về A. Tsêkhôv

              Antôn Pavlôvich Tsêkhôv là đại diện ưu tú cuối cùng của văn học hiện thực Nga thế kỷ XIX, là một trong những văn hào lỗi lạc của thế giới. Nhà văn vĩ đại cùng thời với ông, L. Tôlxtôi, đã cảm kích viết: “Tsêkhôv là một nghệ sĩ vô song. Phải, phải đấy: Vô song”.

            A. Tsêkhôv sinh năm 1860, tại thành phố Taganrôg nằm trên bờ biển Azôp. Gia đình ông thuộc tầng lớp thị dân. Cha ông có nhiều năng khiếu nghệ thuật: Thích hội họa, ưa chơi viôlôn và mê ca hát. Nhưng lối giáo dục của người cha thường rất nghiêm khắc và thô bạo. Cảnh sống nhàm chán cùng với kiểu giáo dục ấy đã gây ra trong lòng cậu bé Antôsa một cảm giác nặng nề và ảm đạm. Sau này, nhà văn chua chát viết: “Thời trẻ, tôi không có tuổi thơ”. Mẹ ông rất ít học vấn. Tuy vậy, bà đã gắng dạy cho con biết đọc, biết viết. Năm lên 8 tuổi, Antôsa bắt đầu tới trường. Cảnh gia đình đã buồn tẻ, cảnh nhà trường thời ấy buồn tẻ cũng không kém. May thay ở địa phương có một nhà hát. Tsêkhôv thường lui tới đây xem biểu diễn. Và đó là niềm vui thích lớn lao của tuổi thơ ông. Chính sân khấu đã gieo vào lòng chú bé Antôsa giàu nhạy cảm tình yêu ban đầu đối với nghệ thuật, đã kích thích chú sáng tác những vở kịch đầu tiên của mình.

            Sau khi tốt nghiệp phổ thông, mùa thu năm 1879, Tsêkhôv đến Maxcơva. Tại đây, gia đình nhà văn sống rất khó khăn. Mặc dầu vậy, nhờ số tiền học bổng do tỉnh nhà chu cấp, ông đã trở thành sinh viên khoa y Trường đại học Tổng hợp Maxcơva. Từ 1880, Tsêkhôv đã bắt đầu cho in những tác phẩm đầu tiên của mình trên các tạp chí  hài hước như Chiếc đồng hồ báo thức, Những mảnh vỡ, Người khán giả, Con chuồn chuồn... thường với bút danh “Antôsa Tsêkhôntê”. Vào năm tốt nghiệp đại học 1884, ông cho ấn hành tuyển tập đầu tay mang tựa đề Những mẩu chuyện của Melơpơmêna.

            Sau khi tốt nhgiệp đại học, Tsêkhôv hành nghề y. Ông thường chữa bệnh cho người nghèo nhiều khi không lấy tiền. Tsêkhôv rất say mê y học, nhưng văn chương cuốn hút ông mạnh hơn nhiều. Năm 1886, tuyển tập thứ 2 của ông Những câu chuyện đủ màu sắc được ấn hành. Tsêkhôv bắt đầu nổi tiếng. Năm sau, 1887, tuyển tập thứ 3 Trong cảnh hoàng hôn đã mang lại cho nhà văn một vinh quang lớn : Viện hàn lâm khoa học tặng ông Giải thưởng văn học mang tên Puskin. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng nhiều tác phẩm trong thời kỳ này do nhu cầu kiếm sống, nhất là do ý thức viết văn của ông chưa thật rõ rệt, nên chất lượng vẫn còn hạn chế. Chính ông trong thư gửi nhà văn danh tiếng đương thời - Đ.V. Gôrigôrôvich - đã thổ lộ: “Từ trước tới nay, đối với công việc văn học của mình, tôi đã có thái độ rất hời hợt, rất uể oải, coi nó chả ra gì”. Và sau này, vào năm 1899, khi chuẩn bị xuất bản tuyển tập mới của mình, ông dứt khoát loại bỏ khá nhiều vì lẽ: “Tsêkhôntê viết nhiều, Tsêkhôv chỉ chấp nhận ít thôi”. Dầu sao, nhiều tác phẩm của ông vẫn được dư luận đánh giá cao như  Béo và gầy (1883) , Con kỳ nhông (1884), Lão quản Pơrisưbêép (1885) v.v... Đặc biệt, trong số những nhà văn viết truyện ngắn, Tsêkhôv nổi lên bởi tài năng và còn bởi tính nghiêm túc của nội dung xã hội mà tác phẩm của ông đề cập đến. Những nhà văn lớn đương thời như N.X. Lexkôv, Ia.P.Pôlônxki... nhất trí đánh giá cao tài viết truyện ngắn của ông. Năm 1888, L.Tôlxtôi bắt đầu làm quen với các truyện ngắn của Tsêkhôv. Từ đó, văn hào Nga vĩ đại này thường xuyên theo dõi sự trưởng thành của ông. Tuy nhiên, phải đến khi xuất hiện truyện Thảo nguyênNgười truyền tin phương Bắc ở Pêtêrbuar thì tên tuổi của Tsêkhôv mới thực sự nổi tiếng... Phải nói rằng Tsêkhôv rất có ý thức khi thể hiện đề tài quen thuộc này. Trong lúc thai nghén tác phẩm, ông luôn nhớ tới Gôgôl, bậc tiền bối xuất sắc của mình. Tsêkhôv gọi tác giả Những linh hồn chết là “vị chúa tể của thảo nguyên trong văn chương”. Nhưng ông quyết đi theo một con đường mới, khác hẳn. Ông hy vọng sự thể hiện thảo nguyên của mình sẽ tác động đến các nhà văn trẻ khác, sẽ chỉ cho họ thấy “sự giàu có” cũng như “tiềm năng vẻ đẹp” của thảo nguyên “còn chưa được bàn đến, còn chưa quan hệ khăng khít với những nghệ sĩ Nga như thế nào”. Trong thư gởi A.X. Lazarêv - Gruzinxki ngày 4-2-1888, vốn là một người khiêm tốn, ông vẫn cho phép mình viết rằng: “Tác phẩm đó thành công hay không, tôi không biết. Song dẫu sao nó cũng là kiệt tác của tôi, tôi không biết tạo nên một cái gì tuyệt vời hơn thế”. Niềm tin của Tsêkhôv không phải không có cơ sở chắc chắn. Các nhà phê bình văn chương chân chính và tất cả các nhà văn lớn như L. Tôlxtôi, Kôrôlenkô, Xaltưkôv - Sêđrin, Tsernưsepxki, Pôlônxki đều tỏ ra hài lòng về tác phẩm này. Sêđrin viết rằng chính ông đã thực sự đắm đuối với Thảo nguyên. Còn V.M. Garsin ngay sau khi đọc xong tác phẩm đã vội chạy tới bạn mình, xúc động thông báo một tin theo ông là quan trọng : “Đã xuất hiện ở nước Nga một nhà văn mới kiệt xuất”. Quả thật, với truyện Thảo nguyên Tsêkhôv bước vào một giai đoạn sáng tạo mới trong đó nghệ thuật viết truyện của ông đã đạt tới mức hoàn thiện. trên tạp chí

            Trong cuộc đời của mình, Tsêkhôv hoàn toàn không chịu nổi sự gò bó về không gian. Mùa xuân 1887, sau 7 năm sống ở Maxcơva, ông trở về thành phố quê hương. Đặc biệt năm 1890, ông đã làm một chuyến viễn du tới đảo Xakhalin, nơi giam giữ những người tù khổ sai và bị lưu đầy. Sau chuyến đi này, ý thức về Tổ quốc càng trở nên sâu sắc và phức tạp trong ông. Tsêkhôv vừa thấy “nguồn của cải chủ yếu của đảo Xakhalin, tương lai của nó... là ở chỗ nó có các mùa” lại vừa thấy đây là “nơi thống trị những nỗi thống khổ vô cùng tận”. Ngay sau chuyến đi ông viết tác phẩm văn xuôi tư liệu Đảo Xakhalin, và cũng có lẽ do những ấn tượng có được trong chuyến đi, Tsêkhôv đã sáng tạo truyện ngắn xúc động nhất của ông - truyện Phòng số 6. Những người cùng thời với nhà văn đều nhận ra hiện thực xã hội lớn lao trong tác phẩm dung lượng không lớn này. N.X. Lexkôv khẳng định “trật tự” của đất nước được phản chiếu trong tiểu phẩm Phòng số 6, còn tính cách nhân vật thì có thể gặp ở mọi nơi, tóm lại “Phòng số 6 - đấy là nước Nga”. Hình tượng tác phẩm này của Tsêkhôv cũng từng tác động mãnh liệt tới V. Lênin thời trẻ. Đó là vào những năm 1890 khi trên đảo Xamara, Lênin đang khao khát phạm vi rộng lớn để hoạt động cách mạng. Trong thư gởi cho chị mình, bà A.I. Ulianôva - Êlizarôva, Người viết : “Khi đọc xong truyện ngắn này vào chiều hôm qua, em cảm thấy thật sự ghê sợ, em không thể ngồi lại trong phòng mình được nữa, em đứng dậy và đi ra ngoài. Em có cảm giác rằng quả thật em đang bị giam trong Phòng số 6. Bà Ulianôva - Êlizarôva còn nhớ lại rằng : “Những lời đó của Vôlôđia đã cho tôi rõ tình trạng tinh thần của chú ấy : Đối với chú, Xamara đã biến thành Phòng số 6 như thế và dường như chú đã cố thoát khỏi nó như con người bất hạnh của Tsêkhôv lớn lao đã làm. Và thế là chú dứt khoát quyết định sẽ rời khỏi Xamara vào mùa thu tới”.

            Trong những năm 1890, Tsêkhôv có tham gia một số hoạt động xã hội nhiều ý nghĩa. Ông hoạt động trong tổ chức cứu tế nông dân bị nạn đói đe dọa. Ông tình nguyện làm bác sĩ tham gia chống nạn dịch tả. Năm 1892, Tsêkhôv cùng với gia đình rời đến làng Mêlikhôvơ cách Maxcơva 60 km. Tại đây ông tiếp tục trị bệnh cho nông dân, mở mang đường sá, đỡ đầu trường học và viết văn. Do lao động nghệ thuật thường xuyên căng thẳng, sức khỏe của nhà văn bị sa sút nhiều, bệnh phổi tiếp tục hoành hành. Năm 1899, nhà văn phải tới sống tại Ianta, một vùng khí hậu ấm áp để dưỡng bệnh. Ở đó, Tsêkhôv thường tiếp xúc với L. Tôlxtôi và M. Gorki khi ấy đang dưỡng sức tại Gaxpơrơ. Nhiều nhà văn nổi tiếng khác như  Bunin, Cupơrin... cũng tới thăm Tsêkhôv ở Ianta. Cũng tại đây, ông đã kết hôn với nữ diễn viên sân khấu có tài Ô.L.Cơniperơ vào năm 1901. Trước đó một năm, ông được bầu làm viện sỹ danh dự Viện hàn lâm khoa học Nga. Nhưng vào năm 1902, để phản đối việc Sa hoàng Nicôlai II không chịu phê chuẩn cho Gorki làm viện sỹ danh dự, Tsêkhôv đã khước từ danh hiệu viện sỹ của mình.

            Bước sang năm 1904, bệnh tình của Tsêkhôv ngày càng trở nên trầm trọng. Vốn là một bác sĩ, ông càng ý thức được nỗi nguy kịch của mình ! Tháng 5 năm đó, ông sang Đức để trị bệnh. Tới nơi thì tim và phổi của nhà văn đã quá yếu rồi. Tsêkhôv qua đời vào rạng sáng ngày 2-6-1904. Bà Ô.L.Cơniperơ có thuật lại những giây phút cuối cùng của chồng mình như sau :

            “Antôn Pavlôvich chết bình tĩnh, lặng lẽ. Anh thức dậy lúc đầu hôm và lần đầu tiên trong đời anh, anh yêu cầu mời một bác sĩ tới. Bác sĩ đến bảo bưng rựơu sâm banh ra. Antôn Pavlôvich ngồi xuống, nói với bác sĩ bằng tiếng Đức, nói lớn tiếng, dằn mạnh: “Tôi chết”, rồi anh cầm li, quay mặt về phía tôi, mỉm cười theo lối kỳ diệu của anh và nói : “Đã lâu rồi anh không uống sâm banh”... Anh thong thả uống cạn li rượu, lặng lẽ nằm nghiêng bên trái. Ngay sau đó, anh vĩnh viễn không thốt ra lời nữa.”

            Thi hài Tsêkhôv được an  táng tại Maxcơva.

*

            Hoạt động sáng tạo văn chương của Tsêkhôv kéo dài trong 25 năm, từ 1880 đến 1904. Ông viết nhiều thể tài như truyện ngắn, truyện vừa, văn châm biếm, kịch tâm lý và văn xuôi tư liệu. Ở thể tài nào, nhất là truyện ngắn và kịch tâm lý, ông đều có những đóng góp cách tân quan trọng. L. Tôlxtôi đặc biệt đề cao tài viết truyện của Tsêkhôv đã gọi ông là “Puskin bằng văn xuôi”. Khi so sánh Tsêkhôv với G. Môpatxăng, L.Tôlxtôi cho rằng Tsêkhôv “hay hơn” nhà viết truyện nổi tiếng người Pháp.

            Từ lâu, truyện của Tsêkhôv đã trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam. Những tấn bi kịch trong tình yêu và gia đình là mảng đề tài Tsêkhôv cũng như  nhiều nhà văn lớn xưa nay rất lưu tâm. Điều này không phải ngẫu nhiên. Có thời người ta cho rằng ái tình, hôn nhân là những đề tài “vĩnh cửu”. Muốn tác phẩm có giá trị trường tồn, nhà văn phải khai thác những đề tài  “vĩnh cửu” ấy. Thật ra không hẳn như vậy. Mỗi thời đại, mỗi giai cấp đều có quan niệm riêng về những vấn đề chung này. Đó chính là cơ sở giúp các nhà văn phanh phui một cách chân thật con ngưới và thời đại mình đang sống. Hơn nữa, lý tưởng nhân văn cao cả dễ tìm thấy trong tình yêu và gia đình những hình thức biểu hiện nổi bật và xúc động. Cũng chính từ nội dung xã hội và nội dung tư tưởng đó mà Tsêkhôv đã mạnh dạn đặt ra, và góp phần giải quyết vấn đề tình yêu và hôn nhân trong các tác phẩm của mình.

            Thời đại Tsêkhôv sống là thời đại mà con người phải chịu tầng tầng lớp lớp những ràng buộc về vật chất cũng như tinh thần. Riêng trong tình yêu và gia đình, biết bao thành kiến về gia tộc, tiền của, tôn giáo, dòng giống trói buộc con người. Việc chọn lựa tất yếu phải đặt ra. Và nỗi day dứt của bao trái tim yêu đương làm xót xa bao thế hệ người đọc chúng ta. Ở đây, điều muốn làm hoàn toàn đối lập với điều cần làm, bởi cá nhân thường xuyên tách rời và thù địch với xã hội. Bi kịch xuất phát từ đó. Cô gái nghèo Nađia trong truyện Chọn một trong ba người buộc phải lấy anh chàng trán “nhỏ và hẹp”, “mũi tẹt nhưng hểnh lên”, “tóc cứng như lông lợn” làm chồng. Chẳng có gì ở anh ta gợi nên tình yêu trong lòng cô gái. Nhưng đó lại là con trai của một thương gia có tiếng ở Maxcơva. Yêu thì có quyền mơ mộng, còn sống với nhau thì phải thực dụng! Có điều, cô đã phải hành động trái với những gì cao đẹp mình hằng ấp ủ. Vì vậy, cô đã tự khinh bỉ, tự kết án mình: “Trên đời này tôi chỉ yêu tiền bạc, quần áo, xe cộ... nhiều hơn tất cả. Tôi là kẻ ti tiện, ích kỷ”. Nỗi đau lòng là ở chỗ đó. Giá cô tự hài lòng với sự chọn lựa của mình thì lại là chuyện khác. Đó là dấu hiệu của chuỗi bi kịch tiếp theo trong cuộc sống gia đình mà cô không thể nào tránh được. Đâu phải lỗi tại cô! Và, ta bắt gặp những quan điểm sống trơ tráo đến kinh người. Hãy nghe anh chàng Vlađimia Stran thuyết phục cô : “Tình yêu dẫn đến hôn nhân sẽ không bao giờ có hạnh phúc và kết cục rất thảm hại”. Hắn còn vặn vẹo : “Em không bao giờ lấy một người nghèo làm chồng cơ mà? Vậy thì sao em cứ buộc anh lấy một người nghèo làm vợ?” Còn chàng trai trong Hỏng việchỏng việc. Mà có gì là “lỡ lời” đâu ! Anh chỉ muốn thành thật bộc bạch mọi điều với người mình yêu bởi anh muốn tránh “mọi sự hiểu lầm sau này”. Nhưng cái mà anh cho là “tiền đề” lại rất tầm thường trong quan niệm của cô gái, vì thế cái mà anh lấy làm tự hào tuyệt nhiên không gợi lên một tình cảm tương tự trong lòng người yêu của anh ta. Quan điểm sống đối lập có dịp bộc lộ chính là nguyên do sâu sa chấm dứt mối tình của họ. Au cũng là lẽ tự nhiên! Nụ cười của Tsêkhôv không khỏi chua chát. Kết thúc tác phẩm là một câu hỏi như không thể có lời đáp : “Bạn đọc ơi ! Làm thế nào cứu vãn được tình cảnh này đây?” buộc phải rời xa người yêu chính vào lúc hạnh phúc tưởng nằm gọn trong lòng bàn tay anh ta. Người vợ yêu thương, khoản tiền lớn, con đường danh vọng sắp hoàn toàn thuộc về tay anh ta thì... anh ta lại đi chệch đường, lại “nói lỡ lời” và thế là...

            Trong xã hội chồng chất những nỗi bất hạnh ấy có một nỗi bất hạnh thật thảm thiết do của cải và tiền bạc gây ra. Như đã thành nếp nghĩ quen thuộc, người ta đến với hôn nhân vì những nguyên cớ ngoài tình yêu. Trong Hoa nở muộn mằn, bác sĩ Tapôrkôv đi đến quyết định nhất thiết phải lấy vợ. Vì sao? Vì ông phải mua một tòa nhà với giá sáu mươi ngàn rúp. Ông ta không thể tìm đâu ra được ngần ấy tiền. Chỉ có một con đường là cưới vợ vì tiền. Thế là ông nhờ bà mai đi bất cứ chỗ nào hỏi vợ cho ông với một điều kiện duy nhất là người vợ ấy đem lại cho ông ta đủ số tiền đó. Cái cảnh sau đây đã diễn ra không phải một lần : Bà già ngồi vào ghế đi văng. Sau những lời mào đầu dài dòng bà già mỉm cười, làm dáng... Rồi tuyên bố rằng: Ơ nơi công tước phu nhân có “hàng bán” và ở nơi bà có một “người mua”. Hôn nhân là chuyện thuận mua vừa bán. Và cố nhiên người đàn bà thật sự chỉ là một món hàng đặc biệt - một món hàng sống trao qua đổi lại. Đồng tiền hoành hành trên lĩnh vực vốn thiêng liêng và trong sáng này. Ivan Pêtrôvich đúng là “một kẻ chuyên quyền bạo chúa”, “một con người không có trái tim và lý trí...” Hắn tồn tại trên đời chi để hưởng lạc vật chất. Vì tiền, hắn có thể đánh đổi tất cả : Tình cảm, danh dự và lương tri. Hắn không thể hiểu được nỗi khổ tinh thần của người khác. Hắn ngạc nhiên tại sao Grôkhônxki cũng ăn, cũng uống như hắn, mà ông ta lại khổ, lại hóa điên rồ. Lý lẽ của hắn đơn giản thế này: “Ông ta có tiền, tôi có hàng... thuận mua vừa bán”. Hắn sa vào cuộc sống phi luân và bất chấp tất cả. Không hy vọng có cách nào đưa hắn trở về với cuộc sống bình thường của con người. Khi Lida, người vợ theo giá thú đồng thời là nạn nhân của hắn khóc lóc van nài: “Em buồn lắm, em sẽ chết vì đau khổ mất” thì hắn trắng trợn tuyên bố: “Không được! Anh đã nhận tiền”. Và theo hắn, số trời đã định vậy, không thể đổi khác được. Lida buộc phải tiếp tục sống với nỗi khổ của người mẹ xa con, tiếp tục tồn tại bên cạnh “con người ốm yếu với những cái hôn giống như cái hôn của người già”, để rồi hóa thành một cái bóng lay lắt di động nơi đoạn chót của cuộc đời.

            Đọc Tsêkhôv, nhiều người cho rằng ông “lạnh lùng” quá! Thật ra, đây là quan niệm của ông. Trong thư gửi cho một người bạn gái viết văn tên là Avilôva, Tsêkhôv viết : “Phải rồi, có lần tôi đã nói với chị rằng cần phải rỏ ra lạnh lùng khi viết những chuyện đáng buồn. Nhưng mà chị đã không hiểu ý tôi. Khi viết truyện có thể khóc lóc, có thể rên rỉ, có thể đau đớn cùng với nhân vật của mình, nhưng tôi nghĩ rằng những điều này phải đừng để người đọc nhận thấy. Càng tỏ ra khách quan bao nhiêu, ấn tượng gây ra càng mạnh mẽ bấy nhiêu ! Đó chính là điều tôi muốn nói”. Vậy là ngòi bút của Tsêkhôv có vẻ “khách quan”, nhưng không bao giờ sa vào “khách quan chủ nghĩa”. Thái độ yêu ghét của ông vẫn hết sức rạch ròi. Có điều, phải chăm chú lắng nghe mới nhận ra nhịp đập của trái tim thấu nỗi đau nhân tình qua từng trang văn của ông. Tình cảm của Tsêkhôv dành cho nhân vật Maruxia trong Hoa nở muộn mắn là một ví dụ điển hình. Tình yêu nảy sinh trong tấm lòng trắng trong của Maruxia đã khiến nàng  luôn ngộ nhận. Nàng ngộ nhận trí tuệ tình cảm, ngộ nhận toàn bộ cuộc sống và con người Tapôrkốv. Thậm chí tin Tapôrkốv lấy vợ đã làm Maruxia rơi vào tình trạng hoàn toàn đổ vỡ về tinh thần suốt mấy tháng trời liền. Thế mà cuối cùng, nàng vẫn tìm ra được lời thanh minh cho hành vi ấy: Vì nàng đã xúc phạm tới bà mai của ông ta nên đó chỉ là hành động trả thù mà thôi (!?) Tình yêu một phía kéo dài bao năm trời luôn bị thổi bùng lên bởi sự ngộ nhận như vậy. Và chính thứ tình yêu đơn độc đó đã cuốn hút toàn bộ tâm trí, sức lực và thời gian của Maruxia bé bỏng. Thực ra, con người có vẻ ngoài cao thượng, đàng hoàng ấy không chút xứng đáng với tình yêu của nàng. Nhưng mọi nỗi đau khổ chỉ dồn lên cuộc đời của mỗi mình nàng. Thế rồi nàng đã chết vì sự hoảng loạn về tinh thần hơn là vì cơn nguy kịch của bệnh tật. Biết bao lần trái tim của Tsêkhôv nấc lên thổn thức.

            Tư tưởng của Tsêkhôv đặc biệt được biểu lộ qua lời giải đáp những câu hỏi đặt ra trong các tác phẩm của mình. Trong Lời tự thú hay là Ôlia, Dênhia, Dôia  Được gặp mặt đấy, nhưng..., Tsêkhôv đã dứt khoát khẳng định: Con người luôn chịu trách nhiệm về hạnh phúc của mình, không có “số mệnh”, cũng không hề có may rủi. Qua nhân vật Grôkhônxki trong Một món hàng sống, nhà văn muốn nói với chúng ta chân lý này: Tiền bạc, sự giàu có không thể đánh đổi được hạnh phúc thật sự. Đáng tiếc là lời giải đáp của nhà văn không phải trong trường hợp nào cũng có sức thuyết phục. Lối kết thúc truyện Hoa nở muộn mằn có gì gần gũi với lối kết thúc có hậu của truyện cổ. Đẹp thật đấy nhưng vẫn thiếu sơ sở thực tế. Cũng có thể nói như thế về tác phẩm Dải đất xanh. Nhà văn hiện thực Tsêkhôv ở đây có phần lãng mạn. Tình yêu và hôn nhân tự do được bảo vệ một cách đúng đắn trong Dải đất xanh. Tuy nhiên, vẫn có cảm giác như chuyện đó chỉ xảy ra ở nơi “trời cao rực rỡ, nước thấp thoáng sáng ngời”. Au cũng là hạn chế tất yếu của thời đại mà Tsêkhôv thiên tài chỉ mới dự cảm và tiên đoán. Dầu sao, tư  tưởng lớn lao của nhà văn vẫn đời đời gieo vào lòng người đọc những khát vọng cao cả thôi thúc con người đi về phía trước. Xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp mà chúng ta ngày nay phấn đấu xây dựng sẽ có điều kiện biến những ước mơ cháy bỏng của nhà văn quá khứ thành hiện thực sinh động.

            Tsêkhôv thường viết rất giản dị và ngắn gọn. Tìm đến thể tài truyện ngắn, không phải vì Tsêkhôv không có khả năng nói dài hơi về cuộc sống và con người. Sinh thời, ông rất thích ý kiến sau của nhà văn Pháp Anphôngxơ Đôđê:

            - Sao tiếng hót của chim ngắn thế - Có lần người ta hỏi chim - Hay là chim không đủ hơi?

            - Tôi có rất nhiều điệu hót, và tôi muốn hót được hết các điệu.

            Tsêkhôv thuộc trong số ít các nhà văn “có rất nhiều điệu hót” và ông “muốn hót được hết các điệu” sẵn có của mình. Trong sự giản dị và ngắn gọn đến độ không thể giản dị và ngắn gọn được hơn thế ấy, chúng ta tiếp nhận được bao điều. Nhưng trên hết, nói theo cách nói của M. Gorki, khi tiếp xúc với các tác phẩm của ông, chúng ta có thể tách ra khỏi những toan tính thường ngày để hướng tới những ý niệm cao qúy của đời sống con người.

                                                                                                                                                          Đà Lạt, 10-8-1987