Việc giới thiệu văn chương Xôviết thời Cải tổ vào giai đoạn đầu Đổi mới ở Việt Nam

Công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực ở nước ta trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX là một tất yếu lịch sử. Nó có những nguyên do nội sinh và ngoại sinh khách quan cần được nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn. Đó là đòi hỏi thật sự mang tính khoa học.

Riêng đối với văn chương thì một trong những nhân tố nước ngoài ảnh hưởng trực tiếp, sâu rộng tới sự nghiệp đổi mới ở  ta ngay sau Đại hội Đảng toàn quốc Lần thứ VI (1986) là đời sống thấm nhuần tinh thần cải tổ của văn chương Xô Viết . Sự tương đồng cơ bản về ý thức hệ đưa đến sự tương đồng nhiều mặt về văn chương, nghệ thuật khi ấy là nguyên do chính giải thích tình trạng này.

Tháng 3 năm 1986, Đại hội lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô được tiến hành, công cuộc cải tổ được khởi động. Mục đích của cải tổ rộng rãi ở Liên Xô khi đó là nhằm giải phóng sức lao động, phát huy mọi tiềm năng tinh thần và tiềm lực vật chất của xã hội, nhờ vậy mà sản phẩm kinh tế – xã hội có điều kiện tăng lên nhanh chóng. Đời sống của từng người cũng sẽ được cải thiện. Rõ ràng, công cuộc cải tổ khởi đầu không có mục đích tự thân mà là nhằm hướng tới một xã hội phát triển và việc nâng cao hạnh phúc cho toàn dân. Đó chính là ý nghĩa nhân đạo sâu xa của công cuộc cải tổ nếu nó đi đúng hướng.

Công cuộc cải tổ ở Liên Xô thời ấy gắn chặt với quá trình dân chủ hoá và công khai hoá, đòi hỏi và tạo điều kiện cho mỗi người được quyền có ý kiến riêng trên cơ sở nhận thức đối tựơng một cách chân thực. Mọi người, do vậy,  học được cách tranh luận thẳng thắn, trung thực, công khai mà khoa học, biết tôn trọng chân lý, lắng nghe ý kiến của người khác. Tinh thần dân chủ và công khai buổi đầu quả thật đã góp phần tạo lập lại công bằng của xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Chính quyền Xô Viết.

Cũng cần nhấn mạnh tới bài học nói rõ sự thật tới công cuộc cải tổ tới văn chương, nghệ thuật. Từ trên diễn đàn, Tổng bí thư  M. Goócbachốp đã nhấn mạnh: Chúng ta không thể tiến lên được một bước nào nếu không học tập làm việc theo cách mới, nếu mất lòng dũng cảm đánh giá tình hình một cách tỉnh táo, nó thế nào thì thấy nó đúng như thế. Muốn tính vô trách nhiệm lùi về quá khứ thì phải học thói quen nói trắng ra, phân tích thẳng thừng mọi điều. Ông đồng thời lưu ý: Không ai được lãng quên lời cảnh cáo nghiêm khắc của Lênin: Nói láo, khoe khoang, giả dối tức là diệt vong về mặt tinh thần, nhất định đưa đến diệt vong về mặt chính trị”. Đáng tiếc là tinh thần  ấy như con dao hai lưỡi, không phải lúc nào cũng tạo được hiệu quả như người sử dụng mong muốn. Nói khác đi, chúng như là thứ âm binh, phát ra thì dễ, thu về lại khó.

Đại hội Nhà văn Liên Xô lần thứ VIII (cuối tháng 6 – 1986) đã tiếp thu hầu như trọn vẹn những bài học của Đại hội Đảng lần thứ XXVII. Và tinh thần Đại hội Nhà văn Xô Viết đã tác động trực tiếp tới giới nhà văn Việt Nam. Tại buổi gặp mặt của Tạp chí Văn nghệ Quân đội ngày 29/08/1986 với một số văn nghệ sỹ trong lực lượng vũ trang cùng trao đổi về một số vấn đề văn học nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh chân tình bày tỏ: Thú vị nhất đối với chúng ta là Đại hội các nhà văn Liên Xô. Ở đó cũng đang có một sự Đổi mới mãnh liệt. Các tác phẩm được đánh giá đúng mức, các tác gỉa được đặt đúng vị trí của nó. Những sự thật được mạnh dạn nói lên. Thật là một cuộc Đại hội chói sáng, một cuộc Đại hội mà những nhà văn chúng ta đang ao ước.

Với tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, gọi sự thật bằng đúng tên của nó, trong không khí thật sự dân chủ, các nhà văn Xô Viết đã công khai nhìn nhận và đánh giá những mặt mạnh và đặc biệt là những mặt yếu của văn học trong thời gian qua.  Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 11 / 1986, đã phản ánh trung thực, toàn diện Đại hội này. Nhiều ý kiến cho rằng số lượng tác phẩm tầm thường, yếu kém vẫn còn nhiều, lại có chiều hướng gia tăng, rằng đã có sự xoá nhoà ranh giới đi tới lẫn lộn giữa cái thật và cái giả, giữa tài năng chân chính và thứ bèo bọt cặn bã. Có thể nêu lên một số nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng lộn xộn, bất minh này. Trước hết, đó là sự cố thủ bất khả xâm phạm của những uy tín văn chương giả. Nhà văn I.Xêmênốp nhận xét: Giới phê bình của chúng ta đã tạo nên tệ sùng bái các ông vua văn học, nhưng kỳ thật những vị quốc vương này té ra là ở chuồng. Đã vậy, việc trao giải thưởng văn chương nhiều khi cũng độc đoán và tuỳ tiện. Người được tặng thưởng không phải vì tài năng đích thực mà vì địa vị mà họ đang ngồi. Nhà văn P.Prôxcurin đã vạch rõ: Có trường hợp một người không chỉ tự viết, tự xuất bản tác phẩm của mình mà còn tự tặng thưởng cho mình nữa. Trong khí đó công chúng độc giả tiên tiến của chúng ta chỉ biết trố mắt  ra mà ngạc nhiên vì họ không sao tiêu hoá nổi 2 trang của thiên kiệt tác đó. Các đại biểu cũng thẳng thắn chỉ ra rằng, bất cứ sự miêu tả nửa vời, nửa sự thật đều bị coi là giả trá, hơn thế còn nguy hiểm hơn, tệ hại hơn sự giả trá bởi vì đó là sự giả trá súng sính trong bộ y phục của sự thật, tự mạo nhận mình là sự thật. Như vậy nhà văn, xét theo tính chất lao động của nghề nghiệp, cần phải cản đảm, còn nhà phê bình thì phải can đảm gấp hai.

 Mặt khác, hầu hết các đại biểu đều tỏ ra không hài lòng với công tác tổ chức Hội, với tác phong làm việc quan liêu hành chính của các cơ quan chức năng và ban lãnh đạo Hội. Hội không đứng ra bảo vệ quyền lợi chính đáng các nhà văn và những tác phẩm tài năng đang được bàn cãi mà chỉ loay hoay với những công việc sự vụ. Nhà văn D.Granin đã mô tả: Một nhà văn trẻ bước vào Hội Nhà văn và anh ta nhìn thấy những gì? Anh ta nhìn thấy rằng những nhà văn giữ chức vụ cao thuộc loại cây đa cây đề thì được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Anh ta nhìn thấy rằng được lợi không phải là người đi tìm lẽ phải, không phải là người ra sức nâng cao tay nghề mà là những kẻ làm công việc lăng xăng, tất bật ngược xuôi. Những hiện tượng bất bình thường được tập trung phê phán thậm chí chỉ trích một cách đích đáng, như: suốt đời làm Tổng thư ký, suốt đời có chân trong Ban thư ký. Nữ văn sỹ E.Sêvêlêva đã so sánh những sai sót nghiêm trọng xảy ra trong lĩnh vực văn học với tai hoạ ghê gớm ở Tsécnôbưn xét theo mức độ tai hại của những hậu quả do chúng gây ra, bởi theo bà, chúng đều bắt nguồn từ một hệ thống gốc, trong đó tính cẩu thả, sự ngu dốt, thói trục lợi, tính nịnh bợ, tệ tham nhũng, những dự tính sai lầm về cán bộ đan bện lại với nhau.

                Những vấn đề được nêu lên tại Đại hội Nhà văn Liên Xô lần thứ VIII là những vấn đề chung, xem ra rất thiết thực và bức bách đối với văn chương các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa lúc đó. Hơn lúc nào hết, nhận định thiên tài sau của Nhà phê bình Nga vĩ đại V.Biêlinxki được chứng nghịêm: Một dân tộc càng mạnh, càng vươn cao về mặt đạo đức bao nhiêu thì nó càng dũng cảm nhìn vào những mặt non kém, những thiếu sót của mình bấy nhiêu…Sự nhận thức những thiếu sót của mình thay vì dẫn dân tộc ấy đến thất vọng và hoài nghi đối với sức mạnh của bản thân, đã đem lại cho nó nguồn sức mạnh mới, đủ mở ra cho nó khả năng hoạt động mới.

Đáng chú ý là từ ngày 2 đến ngày 14 tháng 9 năm 1987, Đoàn đại biểu cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, Phó Trưởng ban Văn hoá – Văn nghệ Trung ương dẫn đầu đã sang thăm Liên Xô. Trong tạp chí Thông tin Văn hoá văn nghe số đầu tiên năm 1988 có đăng bài viết của Phan Hồng Giang Văn hoá – Văn nghệ Liên Xô trong quá trình cải tổ hiện nay, phản ánh những bài học được rút ra trong chuyến đi này. Bài viết quan tâm tới việc đánh giá lại tình hình, đánh giá lại quan niệm ở Liên Xô về văn hoá, văn nghệ. Sự đánh giá này thấm nhuần sâu sắc tinh thần tự phê phán, và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. Không phủ nhận những thành tựu to lớn, nhưng với tinh thần trách nhiệm cao, các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực này thẳng thắn nêu lên những khiếm khuyết như coi nhẹ vị trí của văn hoá, nghệ thuật, không chú ý đầy đủ những đặc thù của lĩnh vực này, ít chấp nhận tranh luận, thiên về khuynh hướng chờ đợi ý kiến từ cấp trên, thích dùng biện pháp cấm đoán. Đặc biệt, cơ chế chính sách về văn hoá không khuyến khích chất lượng, tài năng mà còn mang tính bình quân, thiên về số lượng, thực tế dễ khuyến khích kẻ bất tài, o ép người có tài và trung thực. Một trọng tâm khác là sự chỉ đạo sáng tác nặng về đề tài không chú ý đúng mức đến nội dung sâu sắc của tác phẩm. Xem nhẹ lời dạy chí lý của Lênin về việc tôn trọng tự do sáng tạo chân chính của người nghệ sỹ, hết sức tránh dùng những biện pháp khiên cưỡng, áp đặt.

Tác giả bài viết trên còn chú trọng tới những quan niệm mới về văn hoá, văn nghệ khi Đảng Cộng sản Liên Xô đã khẳng định vị trí trung tâm của con người – nhân tố chiến lược trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Nói tới con người thực ra là nói tới văn hoá. Vì vậy, vị trí của văn hoá trong việc xây dựng những giá trị đạo đức bền vững, tạo dựng nhân cách mới bằng con đướng tình cảm, thẩm mỹ đã được đề cao. Tiếng nói của văn nghệ sỹ được tôn trọng. Trong cuộc gặp gỡ với nhà văn G. G. Marquez, Tổng bí thư Gorbachôv đã khẳng định: Ở ngã ba lịch sử ngày hôm nay, nhân loại đặc biệt lắng nghe tiếng nói của các nhà văn hoá. Trong việc đánh giá di sản quá khư, nguyên tắc gạn đục khơi trong được đề cao. Không lấy thái độ chính trị của tác giả mà gạt bỏ di sản nghệ thuật của họ (như các tác phẩm của các nhà thơ, nhà văn không ủng hộ Cách mạng tháng Mười). Các tác phẩm đã bị đánh giá sai, bị coi là có vấn đề nhưng thực ra là hồi chuông dự báo cho những vấn đề của này mai đã được phục hồi (như  tiểu thuyết Bác sĩ Givagô của Paternắc, Những đứa con của phố Acbát của Rưbacôv, Chức vụ mới của Bếch và một số tác phẩm của Bungacôv và  Platônôv… ).

Tạp chí LangBian số 1, ra tháng 10 / 1987, cho đăng bài viết của Vương Trí Nhàn từ Matxcơva gửi về có tựa đề Sự trở lại với chính mình. Có thể xem bài viết này như một giọt nước tiêu biểu, phản chiếu trung thực việc giới thiệu tình hình văn chương Xô Viết thời cải tổ vào nước ta. Tác giả đặc biệt lưu tâm tới những tác phẩm cũ được in lại và các tác phẩm  mới viết mang đậm tinh thần cải tổ. Trừơng hợp thứ nhất là cuốn tiểu thuyết Chức vụ mới của nhà văn A.Bếch (1903 – 1972). Ông là nhà văn từng lăn lộn trong chiến tranh, là tác giả của nhiều thiên truyện nổi tiếng như Những cuộc chiến đấu trên đường Vôlôcôlamxcơ, Đội cận vệ của tướng Păngphilốp. Cuốn tiểu thuyết Chức vụ mới của ông phác thảo hoạt động của một viên bộ trưởng. Hình như do dựa vào một nguyên mẫu nào đó nên khi đang chờ in, cuốn sách đã bị kiện và cứ thế nằm trong tủ riêng của tác giả từ năm 1964. Mãi cuối năm 1986 mới được in trên Tạp chí Ngọn cờ. Một tiến sĩ kinh tế ca ngợi cuốn tiểu thuyết ở khả năng phân tích cơ chế quan liêu trước đây đã thu hẹp con người, làm biến chất những tài năng như thế nào. Trường hợp thứ hai là tiểu thuyết Những đứa con của phố Acbát của A.Rưbacôv. Phố Acbát là một trong những phố cổ tiêu biểu của Matxcơva. Trong cuốn tiểu thuyết được viết ra đã hơn 20 năm trước, nhà văn trở lại với các sự kiện ở Liên Xô năm 1934. Trong số các nhân vật chính của tác phẩm, có cả Xtalin, Kirôv… Trước đây đã nhiều lần cuốn tiểu thuyết được các tạp chí lớn hứa in. Vậy mà mãi tới tháng 4 năm 1987, cuốn sách mới có dịp ra mắt bạn đọc. Trường hợp thứ ba là trường ca Quyền được nhớ của Tvarđôvxki. Tác phẩm của vị Tổng biên tập Thế giới mới phải đợi 18 năm sau khi viết ra và 16 năm sau khi tác giả qua đời mới được in ra. Bởi vì đây là những dòng thơ mang đậm tâm sự riêng, có những khía cạnh xót xa bi thảm, và chỉ dưới ánh sáng của công cuộc cải tổ người ta mới thấy nó cũng là tâm sự chung của những con người lương thiện trong xã hội Xô Viết.

Vương Trí Nhàn dành cho cuốn tiểu thuyết Bác sỹ Divagô của B.Paxtécnắc vai trò nổi bật trong cuộc hội ngộ mới này. Tiểu thuyết có một số phận thật gian truân. Và chỉ đến lúc đó người ta mới nhận thấy nó rất thích hợp với công cuộc đổi mới tư duy. Nó trình bày một cách hiểu về cách mạng, qua lăng kính của một trí thức nhạy cảm, mau xúc động, nhưng có lương tri, có lòng yêu nước, yêu cách mạng. Công cuộc cải tổ không đòi hỏi văn chương phải có ngay những tác phẩm phụ hoạ, cổ động tầm thường. Ngược lại, nó yêu cầu văn học phải trở thành chính mình, thành một tiếng nói trung thưc, quả cảm, có ích cho xã hội. Nhiều tiểu thuyết vừa mới viết cũng gây được nhiều chú ý như Đoạn đầu đài của Aitmatôv, Bò rừng của Granin … đặc biệt là Áo trắng của Đuđinxev. Những sự kiện trong cuốn tiểu thuyết trở lại thời kỳ khi một chiến dịch rầm rộ khắp cả nước chống lại thuyết di truyền học cổ điển, một mặt chủ yếu của ngành sinh vật học. Lusencô, Chủ tịch Viện hàn lâm Nông nghiệp lúc bấy giờ đã cầm đầu chiến dịch chụp mũ cho ngành di truyền học cổ điển là khoa học giả hiệu, thậm chí là một trào lưu chống nhân dân. Cuộc hội thảo của Viện Hàn lâm vào năm 1948 đã công khai hạ bệ các nhà di truyền học theo trường phái Morgan, buộc nhiều nhà khoa học phải tự lên án các quan điểm khoa học của mình. Cuốn tiểu thuyết Áo trắng đã phê phán những người lãnh đạo tự mãn, củng cố quyền lực của mình bằng thái độ cực đoan, phản chân lý, làm trì trệ di truyền học Xô Viết tới hàng chục năm trời.

Có thể nói, việc giới thiệu công cuộc cải tổ về văn chương ở Liên Xô trong những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX là rất kịp thời và khá toàn diện. Chẳng hạn, việc đổi mới giảng dạy văn học trong nhà trường. Nhà nghiên cứu văn chương V.Lắcsin nhận xét dạy văn học ở trường trung học Xô Viết còn nhiều biểu hiện thô thiển, sơ lược. Nói tới lịch sử văn chương Nga thì bám vào luận điểm Ba giai đoạn cách mạng với Hai nền văn hoá dân tộc, thế thôi. Các tác giả lớn như Đôtxtôevxki, Blốc … bị bỏ ra ngoài chương trình, còn các tác giả đương đại không nổi tiếng lắm thì lấp đầy chương trình vì đáp ứng các chủ điểm chính trị. Cách dạy càng cũ hơn. Lời Gorki được xem như kinh thánh, L.Tônxtôi bị đánh giá thấp hơn vì thế giới quan có nhiều mâu thuẫn …

Tập trung và đáng chú ý nhất chính là sự thay đổi trong tư duy và quan niệm văn chương.  Cũng  có thể thấy rõ ảnh hưởng trực tiếp, cả tích cực và tiêu cực, của sự chuyển biến trong văn chương Xô Viết đối với sự chuyển động của văn chương trong giai đoạn đầu tiên của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Chẳng hạn, sẽ là quá thái, khi cho rằng, khuôn mặt văn chương lúc bấy giờ nên là khuôn mặt lo âu. Trong điện gửi Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn, viện sỹ Likhachôv cho rằng: Điều quan trọng nhất trong văn học lúc này là sám hối (Báo Văn học Liên Xô, số 19/1987). Một dịp khác ông nói rõ thêm: Chúng ta phải học cách biết thừa nhận những sai lầm của chính mình bởi vì việc thừa nhận những sai lầm không hề làm giảm phẩm giá của con người, của xã hội, trái lại còn gây nên ý thức về niềm tin và sự tôn trọng đối với con người cũng như đối với xã hội (Báo Văn học Liên Xô, tháng 1/1987).

Như vậy, sự chuyển biến trong đời sống văn chương, nghệ thuật ở Liên Xô trong những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX là một trong những nhân tố quan trọng trực tiếp ảnh hưởng tới sự biến đổi của  văn chương Việt Nam trong thời kỳ đầu của công cuộc Đổi mới. Sự ảnh hưởng này là phức tạp, không  thuần nhất và một chiều, vì vậy, không đem lại chỉ những bài học tích cực. Cố nhiên, bên cạnh ảnh hưởng từ Liên Xô, còn có ảnh hưởng từ Trung Quốc. Càng về sau, nhất là vào thập niên cuối của thế kỷ trước, tác động từ Trung Quốc càng ngày càng tỏ ra lấn lướt, hiệu quả hơn so với từ Liên Xô. Có thể giải thích điều này từ sự tương đồng  về nhiều mặt giữa hai nước khi tình hình thế giới có những biến chuyển, phân hoá sâu sắc. Xu hướng này sẽ tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh trong những năm đầu của thế kỷ XXI.

                                                                                                      Đà lạt, 2/2005