Hiện đại hóa lý luận, phê bình văn chương nửa đầu thế kỷ XX - Từ một góc nhìn

Nhiều nhà nghiên cứu đã nhất trí cho rằng, thế kỷ XX là thế kỷ văn học về văn học, nghĩa là, trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, chưa bao giờ ý thức về văn học - thể hiện qua lý luận, phê bình, lại được thức tỉnh ở một tầm cao và trên một bình diện rộng đến như thế. Tình hình lý luận, phê bình văn chương Việt Nam trong thế kỷ vừa qua, có sự khác biệt về tính chất và mức độ, nhưng trên thực tế, đã nhập vào dòng chảy chung ấy của thế giới. Được chuẩn bị dần dà mà đầy đủ và chắc chắn từ cuối thế kỷ XIX, bước vào đầu thế kỷ XX, văn chương nước ta, trong đó có bộ phận lý luận, phê bình, từng bước chuyển mình theo chiều hướng hiện đại, để rồi thăng hoa, kết tinh vào giai đoạn 1932 – 1945. Thời kỳ kế theo, từ 1945 đến 1975, văn chương buộc phải vận động trong một hoàn cảnh bất đắc dĩ, khi cả dân tộc phải dồn gần như toàn bộ tâm trí và sức lực vào các cuộc kháng chiến cam go, gian khổ mà oanh liệt, hết chống thực dân Pháp lại chống đế quốc Mỹ xâm lược, quyết bằng mọi giá giành và giữ nền độc lập, bảo vệ sự trọn vẹn của non sông. Hoàn cảnh đặc biệt khiến mọi vận động, diễn biến của văn chương, mà nói riêng của lý luận, phê bình cũng phải đặc biệt. Nhưng có thể nói, từ sau 1975, nhất là từ sau 1986, khi công cuộc Đổi mới được chính thức khởi động, rồi sau đó được triển khai rộng rãi trên mọi lĩnh vực, trở thành xu thế không thể đảo ngược và ngày càng thu được những thành tựu đáng khích lệ, thì lý luận, phê bình văn chương đã chuyển động nhịp nhàng với thời cuộc, trở nên giàu có, đa dạng và sống động chưa từng thấy.

Trong tiến trình hiện đại hóa lý luận, phê bình văn chương dân tộc, cần đặc biệt lưu tâm tới giai đoạn 1932 – 1945, khi mọi sự chuẩn bị trước đó đã trở nên ráo riết nhất và thực tế đã thu được nhiều thành tựu đáng kể nhất. Điều này trước hết có liên quan đến việc nhận chân ra những nét đặc thù của tư duy logic. Loại hình tư duy riêng biệt này trong thời hiện đại ở nước ta lại đi cùng với lối biểu đạt bằng chữ quốc ngữ. Hồi đầu thế kỷ XX, công việc nặng nhọc mà quan thiết ấy gắn liền với sự nghiệp trước tác của nhiều bậc thức giả danh tiếng như Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh…mà vai trò nổi bật có lẽ thuộc về Phan Khôi. Bà Phan Thị Nga, trước cách mạng, có bài Ông Phan Khôi học chữ Tây và làm quen với cô luận lý in trên Hà Nội báo, ra ngày 11/3/1936. Bà kể lại rằng, một lần Phạm Quỳnh có nói tới khoa “lý đoán”. Thuật ngữ gốc gác này khi ấy còn khá lạ lẫm, ngay với cả những nhà Tân học ham hiểu biết. Phan Khôi hỏi lại: “Lý đoán là gì?”. Câu trả lời của Phạm Quỳnh thật sự kích thích óc tò mò ưa học hỏi của ông: “Lý đoán…là lý đoán!” . Thế rồi “ông (tức Phan Khôi) tìm ngay sách Tàu học, nhưng nghiền ngẫm mãi vẫn chưa thấu đáo, nên ông tìm sách Tây xem có đúng như sách Tàu không. Ông giao thiệp với vài người học cao đẳng Hà Nội. Lấy luận lý làm đề cho câu chuyện, ông đem những điều ông hiểu biết ở sách Tàu nói cho họ biết. Họ viết cho ông xem những đoạn họ học rồi. Nhờ đó ông biết rõ hết các danh từ bên chữ Tây và thâm hiểu khoa lý luận”. Truyền bá, giao lưu khoa học buổi đầu là như vậy. Phan Khôi càng ngày càng nhận ra sự gắn bó giữa luận lý với các danh từ khoa học mới đến từ phương Tây. Và “từ khi ông hiểu khoa ấy…, bao nhiêu bài viết của ông ở Nam Phong được người xem để ý thì ông cho là rườm rà, đẽo gọt tất cả”. Đồng thời lối nghĩ và lối viết theo phong cách học thuật hiện đại dần dà thành hình. Nhờ tư duy logic, “ông bắt đầu viết rành mạch sáng sủa như lối văn hiện giờ từ lúc ông làm cho Đông Pháp thời báo ở trong Nam”. Không lấy làm lạ khi biết hồi ấy báo Loa đã tặng cho Phan Khôi xước hiệu “Nhân tình của cô Logique” và vẽ chân dung ông khoác tay một phụ nữ Tây phương tượng trưng cho cô Logique (1, tr.248 - 249). Nhà báo Tế Xuyên trong mục Những bài học của Phan Khôi in ở tập Nghề viết báo nhớ lại thời gian cộng tác với Phụ nữ thời đàm, có nhận xét: “Ông (Phan Khôi) rất ghét những câu văn không rõ nghĩa”. Một lần Tế Xuyên hỏi ông: “Còn khoa lý luận cụ học ai?”, được ông thành thật trả lời: “Học trong sách F. Challaye”. Sách của tác giả này viết “rõ ràng, dễ hiểu, mở cửa cho tôi đi vào triết lý của Tây phương” – ông thú nhận (1, tr.249 - 250). Tuy nhiên, ông lại luôn tỏ ý khen văn mới của Hoàng Tích Chu: “Trong văn quốc ngữ ta, cái lối viết của ông Hoàng Tích Chu thật nó biệt hẳn ra một lối, đủ mà kêu được là: ‘lối văn Hoàng Tích Chu’” (1, tr.270). Đó là lối văn cộc, ngắn gọn, tự nhiên và sáng sủa như ta nói sau này, nhằm diễn tả những sự thực lắm khi thẳng thắn, xen hài hước rất có duyên. Văn mới cùng lối tư duy mới dần dà được thành hình như thế.

Có thể nói, chính lối tư duy logic chặt chẽ, sáng sủa đã góp phần làm nên vai trò nổi trội của ngòi bút Phan Khôi trong đời sống báo chí Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX. Báo Văn nghệ, số 41/2007 có đăng một bài viết khá khách quan trong việc dựng lại chân dung Phan Khôi với tư cách là nhà báo danh tiếng một thời. Theo Thiếu Sơn thì vào khoảng năm 1930, người đọc khắp trong Nam ngoài Bắc “mua Phụ nữ tân văn đều chỉ muốn được coi bài của Phan Khôi hay Chương Dân (bút danh của ông), những bài viết gẫy gọn, sáng sủa, đanh thép với những đề tài mới mẻ, những lý luận thần tình làm cho người đọc say mê mà thống khoái”. Vũ Ngọc Phan thì thừa nhận: “Trong văn giới Việt Nam, dù thuộc về phái già hay phái trẻ, tuy có nhiều người không đồng ý kiến với Phan Khôi, nhưng ai ai cũng phải công nhận ông là một kiện tướng… Thật ai cũng chịu Phan Khôi có cái tài làm cho con chuột nhắt đẻ ra trái núi”. Ông là người Quảng. Mà Quảng Nam, như người đời thường truyền tụng, thì hay cãi. Tuy ông bao giờ cũng cãi một cách hữu lý, vì ông hết sức cẩn trọng trong tư duy và dụng bút. Khi đọc bài thơ của Cao Thủ Khôn họa nguyên vận bài thơ Nhạo Hồ trung Giản của Châu Hy, Phan Khôi rất thích, nhưng ông chỉ dịch ra tản văn chứ không dịch thành thơ như nhiều người, bởi, như ông giải thích: “Bài họa này móc đến ruột ông Châu Hy, khó chịu lắm… Vả nếu dịch ra thơ thì nhiều chữ không thể nào làm rõ nghĩa được”. Hay tản văn Lỗ Tấn, ông đọc kỹ, có thể nói không sót bài nào, nhưng ông không dịch tập Giã theo, vì lẽ, “trong đó có những bài tôi hiểu nghĩa mà không hiểu ý, không biết tác giả muốn nói gì”. Thận trọng đến thế, nhưng ít ai tự nói về mình như Phan Khôi: “Trước kia dầu tôi không có tên tuổi như ông Nguyễn Khắc Hiếu, ông Trần Tuấn Khải, song ít ra trong một năm, tôi cũng có được năm bẩy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm. Mà năm bẩy bài của tôi, không phải là nói phách, đều là năm bẩy bài nghe được” (Phụ nữ tân văn, số 122, 1932). Lòng tự tin đến mức cao ngạo ở Phan Khôi không phải vô cớ. Mà trước nay cũng đã làm không ít người tài hèn đức mọn cảm thấy chẳng dễ chịu chút nào!

Trên thực tế, vào thời ấy, Phan Khôi tả sung hữu đột hầu như trên khắp các mặt báo từ Nam ra Bắc. Nhiều cuộc tranh luận sôi động được khởi nguồn từ những bài viết thẳng thắn mà thấu lý của ông. Trong mục Câu chuyện hàng ngày, Đông Pháp thời báo, số 714, năm 1928 có bài Mấy cái quái trong sách và báo ta của Phan Khôi. Ông vặn vẹo Trần Huy Liệu: “Trong sách Một bầu tâm sự, chương 5, hàng 17 – 20, ông ấy nói rằng: “…Pháp quốc giúp (vua Gia Long) cho hai cái tàu và một ít súng thần công…”. Chuyện ấy cứ vào đâu? Thấy ra trong sách nào?” (2, tr.23). Ông cho như vậy là “dựng chứng lên”, thật tai hại. “Cho nên sách ông bị cấm mà chúng ta cực chẳng đã phải lấy làm hân hạnh… Chúng tôi chỉ xin các ông về sau nên thận trọng trong khi viết một chút” (2, tr.24). Số báo 719, năm 1929, có bài trả lời của Trần Huy Liệu, nhưng chỉ dựa vào duy nhất một tư liệu là cuốn Đại Nam sử ký, lại là cuốn sách phổ thông. Phan Khôi không thể hài lòng. Liên tiếp trong hai số Đông Pháp thời báo, 720 và 721, ông dẫn ra cả sách Nam lẫn sách Tây. Sách ta gồm hai bộ Đại Nam chánh biên liệt truyện, cuốn 28, tờ 8, và bộ Quốc triều chánh biên toát yếu, cuốn 1, tờ 6 – 7, 9 - 10, 17. Xuất xứ rất cụ thể, rõ ràng. Về nguyên do trích thêm sách Tây, ông viết: “Tuy vậy, chúng ta lấy con mắt sử học mà xét thì hai cái chứng cớ ấy cũng chưa đủ lấy làm tin, vì thường tình cũng lấy sự mang ơn kẻ khác là xấu hổ, hoặc giả nước Pháp có giúp thật mà sử gia An Nam giấu đi để phi ơn, cũng chưa biết chừng”. Do vậy, đi xa hơn, ông còn tra cứu và dẫn những sách do chính người Pháp viết ra. Ông dẫn cuốn Việt Nam cận thế sử của B. Maybon ở thiên thứ V và VI, VII, rồi chất vấn: “Vậy thì, nhơn thấy giám mục Bá Đa Lộc nhờ tiền của mấy nhà buôn Pháp hoặc lấy tiền của vua Gia Long gởi sang mà mua tàu súng và mộ người Pháp về giúp vua để đánh lại Tây Sơn, rồi nói rằng đó là nước Pháp giúp, có được không?”. Thế là ông trả lời thẳng thừng ngay: “Không được”. Ý ông muốn phân định rõ, đây chỉ là quan hệ riêng tây chứ không phải là quan hệ giữa hai nước. Đáng chú ý là mục đích của việc tham gia tranh luận ở Phan Khôi. Ông xác định dứt khoát: “Sự cãi lại ấy không phải là hiếu thắng: chỉ vì, một là yêu lẽ thật, hai là muốn trừ cái hại cho nước về sau” (2, tr.28). Nghĩa là, ông đứng trên lập trường khoa học và dân tộc để xem xét vấn đề.

Ta cũng nên quan tâm tới ý kiến luận bàn của độc giả, hướng thẳng vào sức thuyết phục trong các bài viết của Phan Khôi. Chẳng hạn, ý kiến của ông Huỳnh Ích Lợi, in trong số 722 Đông Pháp thời báo ngay tiếp sau đó. Cựu giáo viên đồng thời là điền chủ Vĩnh Long này cho rằng: “Ông C.D (tức Chương Dân – một bút danh của Phan Khôi) dẫn chứng rõ ràng về việc ấy… Những sách của ổng kể ra đó cũng là những sách có giá trị lắm, số đó cũng đã đủ dùng… Cho hay khảo cứu và bàn luận về sử có phải là dễ dàng, ai muốn làm cũng được đâu…”. Ông ta nêu rõ sự ngộ nhận của người đọc chỉ là bởi: “Vốn trong óc người Nam mình hay hồ đồ”, đồng thời phản bác lại sự sai lầm của Trần Huy Liệu: “Ông viện chứng về một việc này, mà chứng của ông nói về việc khác hay gần đâu đó mà thôi thì phỏng có ăn thua gì!”. Trong lời cảm tạ, Phan Khôi nhận ra thịnh ý thịnh tình của ông Huỳnh Ích Lợi. Và không chỉ có vậy, ông viết: “Tôi chỉ mong rằng độc giả có nhiều vị như ông thì trong làng báo quốc ngữ chúng tôi sẽ khỏi được cái tệ nhổ bậy phun càn trên con đường ngôn luận… Ừ phải, nếu ổng (chỉ Trần Huy Liệu) dẫn cho có đầu có đuôi như ông với tôi, thì trong khi cầu chứng để biện hộ cho mình chẳng hóa ra cầu chứng để buộc tội cho mình! Hễ là học giả thì đối với người khác thì phải tỏ ra ngay thiệt, mà nhất là đối với chính mình phải cho ngay thật” (2, tr.42 - 43). Chưa hết, để kết thúc chuỗi bài bàn luận đầy khẩu khí của mình, trên số 752 Đông Pháp thời báo, ra ngày 4/8/1928, Phan Khôi rút ra một số kết luận: “Xin hết thảy người trong nước phải biết tôn trọng quốc sử…đừng để cho người khác xáo bậy đi… Mỗi một khi ta nghe một ai kể ơn với ta hay là nói xấu cho tổ tiên nhà ta, thì ta phải hồ nghi trước đã, rồi phải tra xét cho kỹ… Chúng ta cũng đừng nên ngờ cho hết thảy ngưới Pháp ở đây đều có ý phỉnh gạt chúng ta, họ cũng có nhiều kẻ trung hậu mà bị lầm như chúng ta vậy” (2, tr.59). Vẫn trở lại và nhấn thêm tính khách quan trên tinh thần dân tộc. Đó là một điểm rất đáng đề cao trên con đường xây dựng một nền học thuật vững vàng gắn liền với tính dân chủ rộng rãi của báo chí nước nhà vào giai đoạn quyết định nhất trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.

Cũng không thể không kể tới việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ khoa học mới, trong đó có thuật ngữ văn học, mà trên thực tế quan hệ mật thiết với vốn từ Hán – Việt. Ở đây, cần nhắc lại đóng góp lớn lao của Đào Duy Anh với Hán Việt từ điển xuất hiện vào đầu những năm 1930. Hãn Mạn Tử (tức Phan Bội Châu) đã viết lời Đề từ cho bộ từ điển, trong đó nhấn mạnh: “Từ thế kỷ 19 sắp xuống, Âu học truyền vào, nước ta cũng bắt đầu có chữ quốc ngữ… Nhưng muốn nghiên cứu học mới, phiên dịch sách ngoài, thì những danh từ thành ngữ…mà nhà tân học cần dùng, hết thảy phải lấy ở Hán văn… Chữ xưa mà nghĩa nay, văn thường mà ý lạ, nếu không ai cắt nghĩa cho tinh tường, giải ý cho minh bạch…cái khốn nạn vì không hiểu Hán văn đó, làm hại cho học giới tương lai, chẳng đau đớn lắm sao?” (3, tr.4). Chính tác giả Đào Duy Anh trong Lời đầu sách nhằm giải thích Vì sao có sách này? đã bộc bạch: “Vô luận nước nào, văn tự đã phát đạt đến trình độ kha khá đều có những sách Tự điển hoặc Từ điển để làm tiêu chuẩn và căn cứ cho người học… Bỉ nhân khi mới nghiên cứu quốc văn, đã lấy sự không có Tự điển làm điều rất khôn nạn khổ sở, nên hết sức dùng cách tra khảo gián tiếp mà bổ cái sở khuyết của mình. Nhân đó bỉ nhân lại nuôi luôn cái hy vọng một ngày kia sưu tập những điều của mình đã nghiên cứu được, mà đem ra giúp một phần nhỏ mọn cho những người cũng đã từng cảm giác các nỗi khó khăn như mình” (3, tr.5). Sau này, ông có dịp kể lại quá trình làm cuốn từ điển hữu ích kia: “Bây giờ, tôi không nhớ là công việc ấy làm trong bao lâu. Tôi chỉ nhớ là có nhiều khi bận lắm, tôi phải bỏ cả việc đọc sách để học thêm mà dùng vào Hán – Việt từ điển đến cả 15, 16 giờ mỗi ngày” (1, tr.474). Công lao và tâm huyết Đào Duy Anh bỏ ra cho sự phát triển của khoa học trong đó có văn học đâu có nhỏ.

Hồi đầu thế kỷ, người ta hay nói nhiều tới vai trò của Tân thư trong quá trình canh tân đất nước trên mọi phương diện trong đó có ngôn ngữ, văn chương, học thuật. Những người đưa vào tiếng Việt những danh từ mới từ Tân thư vừa phải thuần thục chữ Hán lại vừa phải thông thạo chữ quốc ngữ. Thực tế quá trình này đã phải kéo dài suốt gần 50 năm đầu của thế kỷ XX. Mở màn cho việc phổ biến những khái niệm mới, tư tưởng mới qua những danh từ mới là sách giáo khoa và tài liệu tuyên truyền của Đông Kinh Nghĩa Thục (1907). Có điều, khi nói đến những từ Hán - Việt trong chữ quốc ngữ, nhiều người đinh ninh rằng chúng đều bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc, tức chữ Hán. Như Mai Ngọc Liễu từng xác nhận: “Một sự kiện quan trọng nữa cần ghi nhận trong lãnh vực ngôn ngữ do phong trào Duy tân và các Nghĩa Thục mang lại, đó là sự du nhập các danh từ Hán - Việt mới về chính trị, xã hội, văn hóa và tư tưởng…do loại sách Tân thư của nhóm Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi” (4, tr.179 - 180). Thật ra, những từ Hán –Việt rất thông dụng trong học thuật như kinh tế, chính trị, triết học, vấn đề, lập trường, phương pháp, diễn thuyết…lại là do người Nhật đặt ra. Đúng là phần lớn chúng đi vào tiếng Việt qua các sách Tân thư nhưng đa số sách này là do người Nhật dịch thuật hay trước tác. Khi dịch hay giới thiệu những khái niệm mới mẻ từ phương Tây, mà trước đó không có trong chữ Hán (chữ viết dùng chung cho các nước Đông Á), trí thức Nhật Bản thời Minh Trị chủ yếu dựa vào các thành tố có sẵn của chữ Hán ghép thành một loạt thuật ngữ mới. Vai trò này chủ yếu thuộc về các trí thức Hội Meirokusha (Minh lục xã), mà Fukuzawa là một thành viên chủ chốt. Họ thường được so sánh với các nhận vật trong phái Bách khoa ở Pháp vào thế kỳ XVIII. Số đầu sách khoa học xã hội dịch từ các tiếng Âu châu sang tiếng Nhật cho đến năm 1890 là rất lớn. Chỉ riêng tiếng Anh là 227, tiếng Pháp là 184, tiếng Hoa Kỳ là 94, và tiếng Đức là 80…(4, tr.159). Rồi từ Nhật lan truyền sang nước ta chủ yếu qua con đường Trung Hoa. Theo Đào Duy Anh, “các sỹ phu của nước ta ở đầu thế kỷ XX đã giác ngộ mà đứng ra chủ trương phong trào khai trí trị sinh” (4, tr.173). Trước đó mọi người coi các sách kinh điển Nho gia là thiên kinh địa nghĩa. Giờ thì mọi người say sưa nghiền ngẫm các tác phẩm của Montesquieu, Voltaire, Rousseau…theo các bản dịch ra chữ Hán của người Trung Quốc, nhưng thực ra, danh từ mới phần nhiều lại đến từ Nhật Bản.

Do vậy, sự phê phán chữ Hán, coi nó là cổ hủ một thời, chỉ nên giới hạn trong việc bài trừ cái học lỗi thời gắn với Hán tự mà thôi. Như, vào đầu thế kỷ XX, Vũ Bội Liên viết: “Chữ Hán quả là cái hàng rào hiểm chắn ngang đường văn minh, làm cho kẻ đi học mỏi lưng, tốn biết bao nhiêu cơm gạo mới dùng được chữ. Khi dùng được chữ thì trán đã nhăn, lưng đã còng vì nỗi dùi mài một đời học các điều cao xa quá. Chữ thảm chữ hại làm cho ai mó đến cũng phải quên cả việc thường đời nay, để học việc đời xưa, đời xưa thực chết rồi, thực xa rồi” (4, tr.181). Phan Châu Trinh thì khẳng định: “Bất phế Hán tự, bất túc dĩ cứu Nam Quốc” (Không bỏ được chữ Hán thì không cứu được nước Nam - 4, tr.182). Nhưng, như đã nói, vai trò của tiếng Hán - Việt thực tế rất quan trọng trong việc xây dựng hệ thống thuật ngữ biểu hiện những khái niệm, phạm trù khoa học mới, nghĩa là xây dựng nền móng cho sự phát triển khoa học, đặc biệt là các khoa học lý thuyết như lý luận văn chương, tựa như vai trò của tiếng Hán – Hòa (chữ Hán trong tiếng Nhật) và Hán – Hàn (chữ Hán trong tiếng Triều Tiên) trong sách vở mang tính chuyên môn sâu khởi nguồn từ phương Tây ở hai nước này. Vậy nên, cần hết sức tránh thái độ cực đoan trong nhìn nhận, đánh giá vai trò của chữ Hán.

Gắn liền và tạo cơ sở cho công cuộc hiện đại hóa lý luận, phê bình văn chương là hiện đại hóa tư duy cùng phương thức tiếp cận, tìm hiểu đối tượng. Có nhiều con đường đến với văn chương. Ưu thế thuộc về những phương pháp thích hợp với lãnh vực đặc thù của con người và xã hội này. Từ trước Cách mạng 1945, bên cạnh việc đề cao phương pháp khoa học nói chung, nhiều học giả đã đi sâu vào hướng tìm tòi này. Các tạp chí Tri tân, Thanh nghị…có vai trò to lớn, không thể phủ nhận. Nhất là tờ Thanh nghị, vốn lấy lại tên một tờ báo do nhà cải cách Lương Khải Siêu chủ trương khi lánh sang Nhật vào năm 1898. Trên báo Thanh nghị số 98 năm 1945, Nguyễn Mạnh Tường có một bài viết quan trọng bàn về phương pháp khoa học mang nhiều ý nghĩa. Ông nhận xét: “Trong học giới nước ta, mấy năm nay phong trào khoa học rất thịnh hành. Nhiều người, nếu không dùng hai chữ khoa học vài lần trong một ngày, đêm ngủ không yên”. Ông đồng thời khẳng định: “Nếu không có thần khoa học ủng hộ thì không thể nào xong được”. Nhưng ông cũng không quên mỉm cười mai mỉa: “Khoa học như người vợ mới cưới, ta thích ngắm, ta thích chiều”. Ấy là bởi nhiều người có phần thái quá trong nhận thức, còn vận dụng thì nhiều khi không thật sát hợp nên không mang lại hiệu quả như mong muốn. Có dịp học hỏi bên Pháp, ông biết, vào cuối thế kỷ XIX, chính H. Taine đã không ít lần lớn tiếng cả quyết rằng, khoa học là vạn năng, giúp ta hiểu thấu tâm lý, cắt nghĩa hết tính tình của con người. Văn sỹ P. Boerget có thuật lại một bi kịch trong cuốn tiểu thuyết có tựa đề là Người môn đệ. Chàng Greslou cùng thầy mình là nhà triết học A. Sixte rất tôn sùng H. Taine. Anh ta quyết định yêu một cô gái là để nghiên cứu ái tình của chính mình, xem nó diễn biến ra sao. Khi quyến rũ cô gái, anh ta chỉ hồi hộp xem thí nghiệm của mình thành công đến đâu. Bi kịch là ở chỗ: cô gái lại ngây thơ tưởng anh chàng thành thực yêu mình, nên sau cuộc ân ái, cô quyết định uống thuốc độc để cùng chết… Anh ta bị đưa ra tòa. Trước pháp luật, do không có chứng lý thuyết phục, anh được tuyên vô tội và được xử trắng án. Nhưng lúc ở tòa ra, người anh cô gái bất hạnh đã bắn chết anh ta để trả thù. Nhà triết học A. Sixte quỳ trước linh sàng người học trò xấu số tỏ nỗi xót xa, vì ông hiểu ra rằng, trái tim của người phụ nữ kia không thể dành cho các cuộc thí nghiệm, nó chỉ thuân thủ theo quy tắc của luân lý và mệnh lệnh của lương tâm… Từ đó, theo Nguyễn Mạnh Tường, chỉ có thể sử dụng học thuyết trực giác của H. Bergson mới có thể đi sâu vào nội giới của nhân loại và ẩn giới của tạo hóa. Trí óc dù thông tuệ đến đâu cũng chỉ cắt nghĩa được ngoại giới, dưới sự trợ giúp của ngũ quan mà thôi! Rồi Nguyễn Mạnh Tường kết thúc bài viết bằng lời khuyên nhủ: “Nên hiểu kỹ địa vị và phạm vi của khoa học và tránh khỏi lòng mê tín đối với khoa học”. Ông muốn nhắc nhở: vận dụng khoa học cần tránh máy móc, sao cho sát hợp với từng lãnh vực, cho từng công việc (5, tr.193).

 Trong một bài khác, Văn chương phê bình và văn học sử, nhà nghiên cứu  Nguyễn Mạnh Tường chân tình khuyên nhủ: “Không nên tỏ vẻ lãnh đạm với văn chương phê bình”, vì để kiến thiết một nền tư tưởng quốc gia trong một thế giới tiến tiến “ta phải nhận rằng nhiều chỗ đã bắt đầu đổ nát, cần phải tu bổ lại”. Ông nêu rõ: “Trách nhiệm của phê bình gia nặng nề cao thượng như vậy, ta hãy xem phải dùng phương pháp nào để đạt tới mục đích đó”. Ông đưa ra và phân biệt mấy loại phương pháp. Một là, theo lý tưởng hay một chủ nghĩa, kiểu ấy mất cái vẻ độc lập vì nó theo phe đảng; Hai là, theo cảm tính riêng, cũng dễ thiên lệch. Hai phương pháp trên thường thấy trong giới phê bình trong các thế kỷ XVII, XVIII và XIX. Theo ông, nên thêm và theo phương pháp phê bình khoa học xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Ông chỉ rõ, đầu thế kỷ XIX, Sainte – Beuve đã yêu cầu các nhà phê bình đi sâu tìm hiểu kỹ các nhà văn trên cơ sở văn, sử liệu cụ thể, rõ ràng. “Nhà phê bình quay ra một văn gia tâm lý học”. Ông nhận ra, 50 năm sau, nhiều nhà phê bình ở ta chịu ảnh hưởng của quan niệm này, không xét đoán viển vông, mà trên cơ sở tra cứu chứng cứ xác thực của phương pháp sử học. Nhiều nhà phê bình lại theo học thuyết Lanson để nghiên cứu văn học sử. Tiếc là, theo lời ông, một số văn sử gia, quên hẳn phạm vi của mình, lẻn vào ấp, trại của sử gia (5, tr.195).

Cùng thời, và gần như cùng quan điểm với Nguyễn Mạnh Tường có nhà nghiên cứu Đinh Gia Trinh. Trên báo Thanh nghị, số 41, ông cho đăng bài Óc khoa học của một vài người. Tác giả mở đầu bài báo: Óc khoa học là một thứ tinh thần ưa nhận xét bằng phương pháp thực nghiệm, ưa rõ rệt, dẫn lí, ghét hàm hồ và đại khái. Chỉ cho là thực cái gì có thể kiểm điểm, thí nghiệm được”. Nhưng ông đồng thời chỉ rõ, óc khoa học không phải để dùng cho mọi lĩnh vực văn hóa, như “mắt ta để trông chứ không phải để ngửi vậy”. Đúng như Pascal đã phân biệt óc quy củ  với óc tinh nhuệ. Sự khác biệt giữa tư duy nghệ thuật và tư duy luận lý đã bước đầu được Đinh Gia Trinh ý thức. Đương thời có xuất hiện cuốn sách Óc khoa học của Phạm Ngọc Khuê do Nhà Hàn Thuyên ấn hành. Ông ta chê bai tư duy của các nhà nghệ sỹ là trụy lạc, sa đọa. Ông ta đánh giá câu thơ tả cảnh: Sương phủ rừng xa, chim gọi nhau bay về núi là không sáng sủa, nên “nếu văn chương và nghệ thuật làm cho trí não con người sa đọa thì thà không có còn hơn”. Rồi ông ta còn bảo: “Phương pháp sáng tác mà hồ đồ thế, hỗn độn thế thì không tìm thấy định lý Pythagore đâu!”. Theo Đinh Gia Trinh, một cái nhìn như thế là lệch lạc và phiến diện. Ông chê trách Phạm Ngọc Khuê là đã bỏ qua “triết lý hệ của phương Tây, cái lửa tha thiết, những nguyên tắc cao siêu của hành động mà khoa học chỉ dẫn cho ta thấy được”. Thật đúng như lời ta thán của cụ Phan Chu Trinh hồi đầu thế kỷ: “Ngày trước học Hán thì làm hủ Nho, ngày nay học Tây thì làm hủ Tây”. Nhà nghiên cứu cần tránh thứ tử lý như nhà văn tránh thứ tử văn vậy. Đặc biệt, ngay từ thời ấy, Đinh Gia Trinh đã biết phê phán tư tưởng biệt phái trong tiếp thu các trào lưu triết học khác nhau: “Triết học duy tâm có cái giá trị của nó, cũng như có những nhược điểm của nó”. Có thể nhận ra sự tạo lập tư duy và phương pháp khoa học làm nền tảng cho lý luận, phê bình văn chương trong buổi đầu ở nước ta gian khổ và khó khăn đến nhường nào. Tuy nhiên, đóng góp của những nhà tiên phong dầu có thể còn sơ giảng ấy vẫn rất cần được thế hệ sau nâng niu, trân trọng.

 

                                                           Đà Lạt, 4/2009

 

 

 ...........................................................................................................................................................................................

1.    Hoài Anh – Chân dung văn học, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001.

2.    Lại Nguyên Ân – Phan Khôi – Tác phẩm in báo năm 1928, Nxb Đà nẵng – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2003.

3.    Đào Duy Anh - Hán Việt từ điển, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1994.

4.    Vĩnh Sính – Việt Nam và Nhật Bản – giao lưu văn hóa, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2000.

5.    Văn học Nước ngoài, số 5/1997.