Tình hình giới thiệu lý luận, phê bình văn chương phương Tây trong thời gian gần đây

Dễ nhận thấy là vào thập niên 1990, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XXI, việc du nhập các trường phái, trào lưu lý luận, phê bình văn chương nước ngoài, nhất là từ phương Tây được đẩy mạnh rõ rệt. Bức tranh chung là khá sôi động và khả quan. Công đầu phải kể đến  Tạp chí Văn học Nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Chưa đầy 10 năm, Tạp chí này đã làm được nhiều việc thật sự hữu ích trong việc giới thiệu lý luận, phê bình từ bên ngoài, chủ yếu là từ phương Tây hiện đại với độc giả chuyên biệt Việt Nam. Đó xứng đáng là thứ đại cát như nhận xét đích xác của một nhà thơ. Qua cửa sổ khá rộng mở này, ta có thể nhận ra đủ mọi trường phái, trào lưu thuộc nhiều chân trời khác nhau như: Văn hóa – lịch sử, Phân tâm học, Hình thức luận Nga, Phê bình mới Anh – Mỹ, Ký hiệu học, Cấu trúc luận, Văn học so sánh, Lý thuyết tiếp nhận, Chủ nghĩa hậu hiện đại…

Một số tập sách tư liệu dầy dặn, công phu mang tính chuyên đề đã xuất hiện như Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Những vấn đề thi pháp của Dostoevski, Nghệ thuật như là thủ pháp, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học… Lần đầu tiên chúng ta có dịp làm quen với những tên tuổi hàng đầu của lý luận, phê bình phương Tây hiện đại như: R.Jakobson, M.Bakhtin, T.S.Eliot, R.Ingarden, R.Barthes, L. Goldmanns, Iu.Lotman, H.Jauss, W.Iser, G.Lukacs, M.Kundera… Đặc biệt, chúng ta được tiếp xúc gần như nguyên vẹn nhiều công trình mỹ học, không qua trích dẫn  hoặc tiếp nhận của người khác dễ làm giảm tính khách quan chân thực như: Văn học là gì? của J.Sartre (Pháp),  Mỹ học của M.Kundera (Cezch), Truyền thống và tài năng cá nhân của T.S.Eliot (Anh – Mỹ), Tác phẩm văn học của R.Ingarden (Ba Lan), Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học của H.Jauss (Đức) ; chùm bài về Ký hiệu học văn học của các tác giả R.Barthes (Pháp), A.Propp (Nga), Iu.Lotman (Nga), và M.Riffaterre (Mỹ) ; chùm bài về Chủ nghĩa hình thức Nga của các tác giả V.Shklovski, B.Eikhenbaum, R.Jakovson; chùm bài về Thuyết cấu trúc trong văn học của các tác giả: Tz.Todorov và Iu.Lotman…

Cũng cần nói đến những cố gắng bước đầu của nhiều nhà lý luận, phê bình nước ta trong việc bàn luận, tổng thuật, giới thiệu một cách tương đối trung thực, có chọn lọc một số trường phái, trào lưu như Phương Lựu, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân, Trịnh Bá Đĩnh… Tiêu biểu nhất là các cuốn  Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX của Phương Lựu và Tác phẩm văn học như là quá trình của Trương Đăng Dung. Do chính người trong nước viết ra, lại qua thâu nhận của mỗi cá nhân, nên nhiều lý thuyết cao siêu của nước ngòai đã trở nên vừa tầm, gần gũi và phù hợp hơn đối với người Việt.

Dư luận trong giới đặc biệt đánh giá cao một số công trình phê bình vận dụng một số lý thuyết văn chương có ảnh hưởng rộng rãi ở nước ngoài khá nhuần nhị, đưa tới những thành công khả quan, rất đáng kích lệ. Nổi bật là hai tên tuổi gắn liền với thi pháp học nhưng đi theo hai hướng khác nhau, góp phần bổ sung cho nhau là Trần Đình Sử với hai công trình Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều, Thi pháp thơ Tố Hữu, và Đỗ Đức Hiểu với hai tập sách có sức nặng không kém là Đổi mới phê bình văn học  Thi pháp học hiện đại. Ý kiến đánh giá về những tác phẩm phê bình của hai nhà nghiên cứu này chưa phải đã hoàn toàn thống nhất, nhưng đóng góp khai mở của họ trong đổi mới phê bình thì gần như được nhiều người nhất trí thừa nhận. 

Cũng không khó nhận ra nhiều khiếm khuyết và những giới hạn trong việc giới thiệu lý luận, phê bình văn chương nước ngòai trong thời gian vừa qua.Việc giới thiệu còn mang tính tự phát, tùy tiện, theo khuynh hướng cá nhân. Thích gì, gặp gì thì làm. Do sự thúc bách tự nhiên của lòng đam mê văn chương, văn học là chính. Vì vậy ở ta chưa có những bộ tùng thư tư liệu nghiên cứu và dịch thuật như ở Trung Quốc. Chẳng hạn Tùng thư lý luận văn học Âu Mỹ thế kỷ XX do Viện Văn học nước ngoài thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn, hay Tuyển tập lý luận văn học mới nhất của phương Tây do tập thể các tác giả Vương Phùng Chấn, Thịnh Ninh, Lý Tự Tu biên soạn (1, tr.163).

Trước tình hình ấy, đòi hỏi về tính toàn diện trong công việc xem ra vẫn còn xa vời. Đã là tự phát tất khó tránh khỏi một chiều. Chỉ xin nêu một ví dụ. Tôi không thật hiểu vì sao trường phái mácxít (có lẽ nên gọi là trào lưu mới đúng vì phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của nó) ở phương Tây lại chưa được các dịch giả, các nhà lý luận của ta chú ý một cách thích đáng. Như nhiều người đã biết, lý thuyết văn chương mácxít không chỉ xuất hiện một cách chính thống trong Cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Rất nhiều tên tuổi nổi bật khác ở phương Tây cũng đi theo xu hướng mácxít nhưng với những biểu hiện khác như C.Caudwell, T.Eagleton (Anh), Th.Adorno, W.Benjamin (Đức), P.Macherey (Pháp), F.Jameson (Mỹ)…chưa được làm quen ở Việt Nam. Đấy là chưa kể các tác phẩm của một số nhà mỹ học một thời bị ghép vào khuynh hướng xét lại như G.Lukacs (Hungary) và R.Garaudi (Pháp) … cũng gần như vắng bóng. Được giới thiệu nhiều hơn cả trong thời Đổi mới có lẽ chỉ có G.Lukacs với Đặc trưng văn học (Văn học Nước ngoài, số 5 - 1998), Nghệ thuật và chân lý khách quan (Văn học Nước ngoài, số 6 - 1999), và sau đó là C.Caudwell với Ảo ảnh và hiện thực (Văn học nước ngoài, số 5 - 2000). Không thật hiểu là vì trong khi chúng ta dường như thờ ơ thì nhiều học giả lớn trên thế giới đã công khai thừa nhận tác động sâu rộng như một trào lưu tư tưởng của chủ nghĩa Marx và nói riêng là các lý thuyết văn chương mácxít trong thế kỷ XX. J.Derrida trong tác phẩm Những bóng ma của Marx (1993) đã khẳng định: cần phải kế thừa di sản của chủ nghĩa Marx (8, tr.167). Riêng về mỹ học, vào năm 1991, trong cuốn sách lý luận nổi tiếng của mình, nhà nghiên cứu M.Mitchell coi lý thuyết mácxít như một trong những trào lưu phê bình quan trọng nhất vào thời hiện đại (1).

Tôi muốn nhấn mạnh tới một điểm quan trọng khác. Do tính tự phát, ta không có điều kiện tiếp xúc một cách chân thực, một cách hệ thống tư tưởng mỹ học của các nhà lý luận, phê bình lớn trên thế giới. Báo Văn nghệ số 11 (ra ngày 12/03/2005) đưa một thông tin quan trọng là nhà xuất bản Voskresenhie đang bắt tay thực hiện dự án công bố  Toàn tập mới Dostoevski gồm 18 tập, có nhiều cái mới, cái khác với Bộ 30 tập in thời Xô Viết. Toàn tập này lần đầu tiên đưa ra những tác phẩm mới chưa hề được cộng bố, đặc biệt là những bản gốc chưa bị lược bỏ, sửa chữa theo kiểu áp đặt chính trị xu thời hoặc không đúng phong cách ngữ pháp đặc trưng của tác giả. Theo logic đó thì ai có thể đảm bảo là những bản dịch ở ta xuất phát từ đúng nguyên bản chân xác, chưa bị điều chỉnh cho hợp với quan niệm và ý muốn của người công bố? Nếu rơi vào thảm trạng ấy, tác phẩm văn chương bị xuyên tạc một, công trình lý luận, phê bình được viết bằng văn phong chính luận sẽ bị xuyên tạc gấp nhiều lần. Ai có đủ cam đảm để tin cho nổi! Hòai nghi là khó tránh khỏi.

Đấy là chưa nói tới công việc dịch thuật. Gần đây nhiều người đã lên tiếng phàn nàn là nhiều bản dịch văn chương, văn học ở ta quá ẩu. Tôi muốn nói thêm, nhiều trường hợp còn sai lạc nữa. Chẳng hạn, việc dịch tên, chỉ tên thôi, bài báo nổi tiếng của Lênin viết vào năm 1905. Nguyên văn bài báo là Partiynaia oranizatsia i partiynaia literatura. Ở đây có ba điểm cần lưu ý :

-          Từ đảng không viết hoa.

-          Từ đảng được dùng như một định ngữ chứ không phải như một danh từ theo ý nghĩa định danh.

-          Từ Literatura theo tiếng Nga có hai nghĩa: văn chương  xuất bản phẩm hoặc sách báo.

Ở đây nên dịch là Tổ chức đảng và sách báo đảng. Nếu dịch như nhiều người trước đây là Tổ chức Đảng và văn học Đảng là không thật sát hợp, từ đó, dễ dẫn đến những sai lệch đáng tiếc khác trong nhận thức.

Cũng cần lưu ý là do xuất phát từ sở trường, sở thích riêng nên tính đối thoại bị hạn chế, mà thường nghiêng về đề cao, ca ngợi một chiều. Ở đây, cần học hỏi tinh thần tiếp thu có phê phán của các nhà nghiên cứu nước ngoài, trên cơ sở phân tích khá kỹ càng, thấu đáo những cái ưu, cái liệt của mọi trường phái, trào lưu lý luận, phê bình theo phép biện chứng sắc sảo. Trong Lời nói đầu và Lời người biên soạn tập sách Tuyển tập phê bình mới, nhà nghiên cứu Triệu Nghị Hành thường xuyên nhắc nhở bạn đọc lưu tâm tới những cống hiến độc đáo cùng những mặt phiến diện, thậm chí sai lầm của trường phái Phê bình Mới Anh Mỹ (7 ,tr.165). Tuy nhiên không ở đâu mà tinh thần đối thoại lại thể hiện cởi mở như ở trường hợp Terry Eagleton. Nhà phê bình Anh danh tiếng theo khuynh hướng mácxít này không ngần ngại tranh luận cả với Karl Marx trong việc đánh giá “sự quyến rũ vĩnh cửu” của nghệ thuật Hy Lạp ngay cả khi điều kiện xã hội nảy sinh ra nó vĩnh viễn không còn nữa (3, tr.72), đồng thời thẳng thắn chê trách cách thu thập tài liệu trong phạm vi hẹp dễ đưa đến những đánh giá thiên lệch, chủ quan của I.Richards, nhà Phê bình thực hành nổi tiếng người Anh (3, tr.77). Ông đặc biệt tập trung phản bác đặc trưng thi ca theo quan niệm của các nhà Hình thức luận Nga biểu hiện ở chỗ “làm biến dạng”, làm “lệch chuẩn” ngôn ngữ bình thường. Rất có lý, ông đặt ra câu hỏi: vậy coi đâu là ngôn ngữ chuẩn trong xã hội có nhiều tầng lớp với những trình độ riêng biệt khác nhau ? Hơn nữa, có những trường hợp như  “tiếng lóng”, lệch chuẩn đấy nhưng đâu có thể xem là thơ? (3, tr.62). Ngữ cảnh xã hội và ngữ cảnh lịch sử tạo ra sự khác biệt của các kiểu diễn ngôn, tất dẫn đến chủ nghĩa tương đối trong nhận thức.

Trong sự tiếp nhận bất cứ trường phái lý luận, phê bình văn chương nước ngoài nào, nhất là thuộc phương Tây hiện đại, tôi thường tự nhủ mình bám sát bốn điểm sau: một, cố gắng hiểu thật tỏ tường, có chứng lý rõ ràng, cần biết đâu là điều cốt yếu nhất của từng khuynh hướng, tránh xa cái lối tiếp thu từng bị cụ Hùynh Thúc Kháng chế nhạo là “bàn giải trống không, dựa hơi sủa bóng” (4, tr.189); hai, đánh giá thỏa đáng cả cái hay lẫn cái dở của mỗi xu hướng, tránh thiên kiến, gắng bám sát phương pháp lịch sử - cụ thể khi phân tích, biện giải; ba, từ sự tìm hiểu kỹ càng, thấu đáo, phải đi tới cái nhìn bao quát trên tinh thần biện chứng, lấy yêu cầu xác thực và toàn diện làm mục đích; bốn, phải đề cao chủ kiến, rút ra những kết luận cần thiết, phù hợp và hữu ích, hướng tới việc tạo dựng một nền lý luận, phê bình của ta trong hoàn cảnh và điều kiện mới.

Tôi nghiệm ra, khó nhất, thách thức nhất là quán triệt điểm 3 và 4. Cần có tầm nhìn khái quát trên cơ sở nắm bắt thật chắc những biểu hiện cụ thể thường phức tạp và đa dạng, rồi đặt trong hệ thống cũng như trong trạng thái diễn biến và đổi thay liên tục của mọi hiện tượng. Phải học người, lại phải biết cách rời xa người, quyết không mù quáng bắt trước, nhằm dần dần tạo ra quan niệm riêng cho mình. Trong việc hình dung ra bức tranh chung của lý luận, phê bình phương Tây thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Trung Quốc Trương Hậu Thành cho rằng: “Trải qua ba lần chuyển hướng (chuyển hướng phi lý tính, chuyển hướng ngôn ngữ luận và chuyển hướng văn hóa luận) và ba giai đoạn là hiện đại, hậu hiện đại và sau hậu hiện đại, đã đi theo con đường từ nghiên cứu ngoại bộ sang nghiên cứu nội bộ và rồi trở về nghiên cứu ngoại bộ (đương nhiên không trở về một cách đơn giản mà tiến theo hình xoáy trôn ốc)” (7, tr.164). Nhà nghiên cứu Phương Lựu ở ta lại viết: « Trước hết là tâm lý học văn học Manhnha từ cuối thế kỷ 19… Hai là ngôn ngữ học văn học Manh nha từ Nhóm ngôn ngữ học Moscou và Hội nghiên cứu ngôn nữ thơ ca Pétespurg đều ra đời từ 1915, mà sau này người ta quen gọi là chủ nghĩa hìn hthức Nga.. Ba là một khuynh hướng quan trọng khác, lâu đời hơn, đó là xã hội học văn học ». (5, tr 578)Tôi thì dựa hẳn vào quy trình văn chương đời sống – nhà văn – tác phẩm – người đọc – đời sống mà nghĩ chỉ có 4 thiên hướng chính:

-          Chú trọng tới đời sống, có thể gọi là xu hướng thực chứng.

-          Chú trọng tới nhà văn, có thể xem là xu hướng tâm lý.

-          Chú trọng tới tác phẩm, có thể xẽm là xu hướng bản thể.

-          Chú trọng tới người đọc, có thể coi là xu hứơng tiếp nhận.

      Mỗi xu hướng có những mạnh mạnh tạo nên những đóng góp riêng. Cần kết hợp những mặt mạnh của từng xu hướng vào một hệ thống nhất quán chung để bồi đắp quan niệm của mình. Có lẽ cần nhắc tới một điều là một vài nhà lý luận, phê bình ở ta có thói quen tôn thờ, khuyếch trương những trường phái bản thân có điều kiện đào sâu, thấm nhuần. Nên có ý thức phân biệt việc lập thuyết với việc vận dụng. Ở hướng sau, cũng cần thấy sự khác biệt giữa vận dụng đưa lý luận vào phê bình với vận dụng lý luận cho lý luận . Trong lập thuyết rất cần đẩy ý tưởng đến tận cùng. Còn trong ứng dụng tôi nghĩ có lẽ khác. Có thể vận dụng vào phê bình thì còn chấp nhận xu hướng tuyệt đối hóa ở một mức độ và giới hạn nhất định. Riêng ứng dụng để xây dựng lý luận thì lại nên tạo sự hài hòa theo hướng trung dung. Cái gì hay ta chọn, cái gì không phù hợp ta lọai. Rồi uyển chuyển tổ hợp các hạt nhân hợp lý nhờ học hỏi vào một hệ thống chung thích hợp với dân tộc và thời đại mình.

Từ kinh nghiệm hay cũng như dở của người, ta cần rút ra những bài học thiết thực và bổ ích cho mình. Chẳng hạn, từ việc tìm hiểu các nhà lý luận, phê bình lớn ở Liên Xô và Trung Quốc được phục hồi vào thời kỳ mới, tôi đặc biệt thấm thía sự cần thiết của không khí học thuật dân chủ đối với sự vận động của văn chương, văn học.

Hãy nhớ lại cách đối xử một thời của chính quyền Xô Viết đối với M.Bakhtin và Iu.Lorman. Bakhtin (1895 – 1975), người được thế giới xem là một trong những nhà nghiên cứu văn chương lớn nhất của thế kỷ XX. Ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường Đại học Petrograd năm 1918. Những công trình khoa học đồ sộ, giàu ý nghĩa cách tân của ông tiêu biểu là Những vấn đề thi pháp của Dostoeivski được viết vào những năm 1920 – 1940 hầu như đương thời không được thừa nhận. Ông phải lui về giảng dạy và nghiên cứu văn chương ở Trường Đại học Quốc gia Moldovia. Mãi tới năm 1963, tên tuổi ông mới xuất hiện trở lại trước công chúng. Từ đó đến nay, những công trình mang tên ông được tái bản nhiều lần, tạo ra ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở nước Nga mà trên toàn thế giới.

Iu.Lotman (1922 - 1993) là tác giả của gần 800 công trình khoa học gồm các bài báo và hàng chục đầu sách, được xem là một trong những người khởi xướng cấu trúc luận trong nghiên cứu văn chương và phân biệt nó với phương pháp ngôn ngữ học. Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Quốc gia Leningrad năm 1950. “Năm 1961, Lotman bảo vệ xuất sắc luận án tiến sỹ… và bắt đầu công bố nhiều bài viết và những cuốn sách. Hồi đó những tư tưởng không chuẩn mực và hành vi phóng khoáng của nhà khoa học trẻ tuổi này đã làm dấy lên thái độ ngờ vực của các quan chức Matxcơva và địa phương đã cấm ông xuất ngoại…Thậm chí ông không được bầu vào Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô sau khi đã trở thành Viện sỹ của Viện Hàn lâm khoa học Anh quốc, Nauy ”(9. tr.246). Suốt từ năm 1951 đến cuối đời, Iu.Lotman nghiên cứu và giảng dạy ban đầu ở Tổ bộ môn Văn chương Nga sau là Tổ bộ môn Lý luận  thuộc Trường Đại học Quốc gia Estonia. Tại đây, ông đã sáng lập ra trường phái Tartu nổi tiếng khắp thế giới.

Hồ Phong (1902 – 1985) từng là Uy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, Ủy viên Thường trực Ban chấp hành Hội Nhà văn Trung Quốc. Vào năm 1954, ông viết Tài liệu thuyết minh mấy vấn đề có tính lý luận tức bức thư 30 vạn chữ, tỏ rõ quan điểm mỹ học của mình. Sau đó, ông bị bắt giam đến năm 1979. Năm sau, 1980, ông chính thức được minh oan. Quan niệm văn chương của ông nhất là về chủ nghĩa hiện thực có nhiều điểm độc đáo và sáng tạo. “Hồ Phong xem hiện thực là cái mà chủ quan đã thể nghiệm, ông gọi đó là thế giới đã được cảm thụ. Ngoài ra trong tâm trí nhà văn còn có một thế giới cần phải có, ông gọi là thế giới được quan niệm” (9, tr.172). Thẳng thắn phê phán khuynh hướng khách quan chủ nghĩa và công thức chủ nghĩa vốn là căn bệnh tràn lan trong văn chương thời bấy giờ, ông lên tiếng đòi hỏi phải điều chỉnh cả hai phía: “Nhà văn phải rót sự tán thành, phản đối của mình vào những biểu hiện sống động của hiện thực, còn hiện thực sinh động cũng điều chỉnh, thậm chí đổi thay hẳn thái độ, quan niệm chủ quan của nhà văn” (9, tr.173). Ở đây, Hồ Phong không hẳn không có lý khi nhấn mạnh đến tính chủ thể trong hoạt động đặc thù của sáng tạo nghệ thuật.

Nghĩ tới những vụ việc trên, tôi nhớ tới không khí tranh luận, biện bác, tôn trọng ý kiến khác, thậm chí trái với mình, làm nên “một cái triệu hay” (lời nhà phê bình Thiếu Sơn) ở ta hồi đầu thế kỷ XX. Phạm Quỳnh yêu cầu phải “dám tranh luận”. Phan Khôi thì đòi hỏi “sự biện luận” đi cùng với “óc phê bình”. Muốn thế, cần có sự tranh đua giữa các trường phái. Cụ Huỳnh Thúc Kháng rút ra những bài học quý báu từ kinh nghiệm đời Trần ở nước ta: “…Học phong đời Trần có vẻ đặc biệt mà có một điều xuất sắc nhất là các nhà có thế lực danh tiếng, tụ hội muôn khách thu dụng nhân tài, có cái phong khí hào hiệp như đời Chiến quốc…Lúc bấy giờ tín giáo có tự do, cái học khoa cử chưa bó buộc, học thuyết Tống Nho cũng mới truyền sang, chưa thạnh hành nên học vấn có vẻ phát triển, mà nhân tài đời ấy cũng sản xuất nhiều tay lỗi lạc phi thường, có mạt như lối học nhà Nho sau này đâu!”  (4, tr.186-187). Rõ ràng, chớ nên biệt phái trong học thuật. Cũng chớ nên biến khoa học thành một thứ tôn giáo. Theo nghĩa này, gọi một nhà khoa học nào đó là vị giáo chủ, xem một nền lý luận nào đó là giáo đường, vị tất đã là sự đề cao.

Bảo giờ đây ta hạn chế dân chủ trong sinh hoạt học thuật là không đúng. Nhưng xem ra chúng ta chưa tạo thành nếp. Trước hết là trong giới các nhà lý luận chúng ta. Ví như, đã thật sự có đối thoại chưa? Theo tôi là có, nhưng hạn hẹp lắm. Hiện vẫn còn tồn tại hay ít ra là vẫn còn dung dưỡng lối phê bình quyền uy. Không khí học thuật có cái khác nhưng chỉ là cái khác được phép chứ còn ít cái khác chưa được phép. Tôi nghĩ trình độ lý luận cũng như nhận thức dân chủ của ta giờ đây đã khác rồi. Không phải ai nói gì người ta cũng nghe đâu. Lắm lúc rất muốn đối thoại mà không có điều kiện. Đi theo con đường bàng thống nhiều người lại không muốn. Có lẽ giới lý luận, phê bình chưa bao giờ lại khao khát một diễn đàn học thuật cởi mở, đa phương, đa chiều  như bây giờ. Thế và lực nước ta giờ căn bản đã khác trước. Phải chẳng một đòi hỏi như vậy không còn là quá đáng nữa.

Tất thảy là vì một nền lý luận, phê bình thật sự khoa học, chứ không phải là thứ lý luận phê bình nhuốm màu đạo học lỗi thời theo cách phân định thật tinh tường, thật thấu lý của nhà khai sáng Trung Quốc Lương Khải Siêu. Trong bài Tựa Bản tiết yếu sách “Minh Nho học án”, ông viết: “Đạo học với khoa học, phải nên phân biệt cho rất rõ. Đạo học là cái học thụ dụng, tự mình tìm lấy được… cổ kim Đông Tây chỉ có một, chớ không có hai. Khoa học là cái học ứng dụng, nhờ các biện luận tích lũy mà thành ra, tùy cái trình độ văn minh trong xã hội mà tiến hóa, cho nên khoa học chuộng mới. Đạo học thời những lời nói cũ tự trăm, ngàn năm về trước, kẻ hiền triết ngày nay vị tất đã nói được hay hơn. Khoa học chuộng rộng…” (4, tr.146).

Tôi hình dung nền lý luận, phê bình mà chúng ta đang mong muốn tạo dựng phải là sự kết tinh di sản đã có của ta và của người trên tầm cao mà thời đại cho phép, đúng theo tinh thần mà nhà phê bình Lê Thanh từng mơ ước : « Đem cái học cũ và cái học mới ra dung hòa để đúc chuốt nên một nền văn học không Tầu, không Tây, mà hòan tòan Việt Nam ». Cố nhiên nền lý luận, phê bình ấy không thể đơn phương, đơn nhất, lại phải hệ thống, nhất quán và vươn tới tầm cao của tính khoa học. Hãy xốc tòan thể đội ngũ lại theo một đường hướng chung phù hợp. Tôi tin rồi nền lý luận, phê bình mà ta mong mỏi bấy lâu sẽ hiển hiện trong một tương lai gần.

Nói thế có nghĩa nền lý luận, phê bình văn chương hiện đại mang màu sắc Việt Nam với những đòi hỏi như trên rõ ràng vẫn còn ở trạng thái mong ước. Cần phấn đấu để mau chóng thiết lập. Bước đột phá, theo tôi, nên bắt đầu từ giáo dục mà trước hết là giáo dục ở bậc đại học. Chẳng cần quan sát kỹ cũng nhận thấy rõ hiện trạng của việc dạy và học môn lý luận văn chương ở các khoa văn hiện giờ ra sao. Thiếu thống nhất, rất thiếu thống nhất. Ai cũng biết phải thay đổi hệ thống lý luận văn chương vốn đã quá lỗi thời, bị thực tiễn vượt qua từ lâu. Biết làm gì đây? Quả là còn rất nhiều lúng túng. Thế hệ cao tuổi thì hầu như chép miệng buông xuôi, tạm hài lòng với việc bổ sung ít ỏi vào hệ thống lý luận đã quá quen thuộc. Lứa trung niên thì dựa vào chút ít kinh nghiệm vốn có, mạnh dạn công phá hệ thống lý luận cũ, nhưng chưa thiết lập được hệ thống mới. Thế hệ trẻ thiết tha với đổi mới, nhưng khá chông chênh, thậm chí hoang mang, chưa biết nên bắt đầu từ đâu và rồi sẽ đi đến đâu. Tình hình thật đáng báo động. Việc cần làm ngay theo tôi bây giờ là nên khẩn thiết tập hợp giới lý luận trong cả nước xây dựng một bộ giáo trình, rồi bộ sách giáo khoa lý luận văn chương theo tinh thần đổi mới cho thật chuẩn. Rồi từng bước đưa vào giảng dạy ở đại học và phổ thông. Có thế, may ra mới cứu vãn được tình hình khi chưa quá muộn. Tiếng kêu cứu của cụ Huỳnh Thúc Kháng cất lên từ năm 1931, đến nay nghe vẫn còn thảng thốt làm sao: “Than ôi! Cái học Khổng Mạnh lai ra Tống Nho, Tống Nho lại lai sang khoa cử, đến Tống Nho và khoa cử nhập chung lại… thì trong giới ấy còn bảo có nhân tài xuất hiện được hay sao ? ”(4, tr.196). Thế là mọi sự đã rõ. Xin không có lời bàn luận gì thêm.

                                                                                      Đà Lạt, 23/10/2005           

 

     TÀI LIỆU CHÚ THÍCH

 1. Bảy luận đề về thời đại hoàng kim của phê bình văn học  www.tienve.org.

 2. Carver  R. – Nguyên lý truyện ngắn – www.evan.com.vn.

 3. Eagleton T.– Lý luận văn học : dẫn luận, Phê bình – Lý luận văn học Anh Mỹ, Tập 1,  Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.

 4 Nguyễn Ngọc Thiện – Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, Tập 1, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001.

 5. Phương Lựu – Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.

 6 . Pôxpêlôv G.N.– Lý luận văn chương, (Tiếng Nga), Trường cao đẳng, M. 1978.

 7. Trần Hậu Thành – Tình hình du nhập lý luận phê bình văn học đương đại phương Tây vào Trung Quốc từ thời kỳ văn học mới, Văn học Nước ngoài, số 5/1999.

 8. Trương Đăng Dung - Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện đại, Văn học nước ngoài – 01/2005.

9. Viện Thông tin Khoa học xã hội – 100 nhà lý luận phê bình văn học thế kỷXX, Hà Nội, 2002.