Sáng tạo, chân và ngụy

Văn chương nước ta đang ở giai đoạn chuyển tiếp. Một trong những dấu hiệu đồng thời là biểu hiện dễ nhận thấy của tính giao thời là ở chỗ các thể nghiệm văn chương (đặc biệt là thể hiện thi ca) đang có xu hướng mở rộng để văn chương ngày càng mang đậm tính hiện đại, nhằm đáp ứng đòi hỏi đa dạng của thế hệ công chúng mới.

Ngẫm cho kĩ thì đó cũng là lẽ bình thường. Tạo ra những sản phẩm mới mẻ luôn là đòi hỏi tự bên trong của hoạt động sáng tạo nghệ thuật đích thực. Một khi người cầm bút không còn đủ nhạy bén với cái mới, sớm đi vào con đường mòn, có khuynh hướng thỏa mãn với những gì đã viết ra chính là lúc sức bút đã bắt đầu cạn kiệt, tài năng đã có biểu hiện lụi tàn. "Là một nhà văn tôi phải hướng tới những chân trời mới" (Aitmatov). Trong mọi thời bản chất của sáng tác là thế, trong thời đại chúng ta tính sáng tạo càng đòi hỏi cao hơn. Quả là chưa bao giờ như thế kỉ  XX sự đổi thay xét cả về nhịp độ, mức độ lẫn tốc độ lại khiến chúng ta kinh ngạc đến thế. Một nhà khoa học đã phải thốt lên: "Chúng ta thay đổi hoàn cảnh tới mức để tồn tại chúng ta phải thay đổi chính mình". Không lấy làm lạ nếu trong văn chương ngày nay xuất hiện những khuynh hướng chưa từng có trong quá khứ. Vậy nên, việc khuyến khích mọi tìm tòi thật sự tâm huyết với nghề nghiệp, thật sự có trách nhiệm với bạn đọc là cần thiết, không nên xem là dễ dãi hữu khuynh.

Tuy vậy, đây mới chỉ là một mặt của vấn đề. Sự thật là như nhiều hoạt động khác, không phải mọi tìm tòi thể hiện trong lĩnh vực văn chương, nghệ thuật đều đi tới đích. Có thành công đồng thời có thất bại. Qua thái độ của công chúng, nhất là công chúng am tường nghệ thuật, có thể phần nào nhận ra sự thành bại của mọi nỗ lực tìm tòi. Bởi nghệ thuật muốn tồn tại phải có công chúng. Văn chương phải được bạn đọc tiếp nhận. Độ cao thấp, nông sâu, đúng sai trong cảm thụ có thể khác nhau tùy thuộc vào quan niệm, thị hiếu và hiểu biết của mỗi người, song nhất quyết người đọc cần cảm hiểu được những gì mà nhà văn viết ra. Thứ văn chương "hũ nút" thậm chí ngay cả người làm ra nó cũng không biết mình viết gì, thứ văn chương ấy thật xa lạ với chúng ta. Sở dĩ có thể phần nào nhận ra kết quả của sự thể nghiệm nghệ thuật qua thái độ tiếp nhận của bạn đọc là bởi văn chương chân chính không chỉ đáp ứng mà còn góp phần nâng cao, hơn thế, góp phần định hướng đời sống thẩm mĩ của người đọc. Muốn vậy, người viết cần tự mình định hướng cho mọi cách tân của chính mình. Nếu sai hướng, lệch hướng cái giá phải trả sẽ rất đắt. Xét dưới góc độ cộng đồng hay góc độ cá nhân nhà văn đều vậy. Ai cũng biết đời người, dẫu sống tới trăm tuổi, cũng là quá ngắn ngủi so với khát vọng sáng tạo không cùng kia. Có một câu chuyện mang tính ngụ ngôn nghề nghiệp thật sâu sắc. Người ta đưa cho vị hiền triết nọ một sợi dây ba nút thắt, hai nút thắt ở đầu dây gần nhau, còn một nút thứ ba ở cuối dây, để xin lời giải đáp của ông. Nhà hiền triết nói: "Một nút thắt chính là ta; nút thứ hai là cái chết của ta; còn nút cuối cùng là nơi chất chứa những ước mơ của ta". Vâng, thời gian thì có hạn mà nghệ thuật thì vô cùng. Nhà văn muốn để lại một chút gì cho hậu thế thì cần biết tìm cái hữu hạn trong cái không cùng ấy! Thời gian với người viết mới quý giá làm sao. Thật tiếc cho sự phung phí thời giờ vốn rất ít ỏi vào những "trò chơi" chữ nghĩa hay những "cuộc phiêu lưu" tìm kiếm không đâu.

Đến đây, một câu hỏi có thể xem là then chốt, được đặt ra: Thế nào là hướng đúng cho mọi sự thể nghiệm tìm tòi? Đưa ra câu trả lời chân xác được nhiều người tán đồng thật không dễ. Để tiếp cận vấn đề, theo tôi, tốt nhất là hãy cùng xem xét đặc điểm sức mạnh của các tác phẩm văn chương lớn xưa nay. Đành rằng, chúng không thể là những mẫu mực cho ta máy móc bắt chước. Mỗi nhà văn theo đuổi mục đích nghệ thuật của chính mình. Mục đích sáng tạo bao giờ cũng xác định, đã không lặp lại và sẽ không lặp lại. Chắc chắn sẽ không có những chuẩn mực bất di bất dịch cho mọi người ở mọi nơi mọi lúc là vì thế. Tuy nhiên, văn chương mọi thời mọi nước dù muôn hình vạn trạng vẫn mang mẫu số chung thể hiện "quy luật muôn đời" của nghệ thuật. Đây chính là những điểm gặp gỡ của các tài năng lớn, lí giải sức sống của những tác phẩm nghệ thuật đã trải qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian trong sự đánh giá khắt khe của nhiều thế hệ người đọc. Sự gặp gỡ đó là gì? Hẳn sẽ có nhiều ý kiến khác nhau. Điều này tùy thuộc vào cách tiếp cận, cách xem xét. Riêng tôi, tôi quan niệm rằng, các tác phẩm lớn đều có điểm chung là những chỉnh thể độc đáo giàu khả năng khám phá hiện thực, mang tầm tư tưởng cao và sức lay động lớn.

Cho đến giờ, quan niệm dung tục về mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực ở ta không còn đất tồn tại. Song, nội dung hiện thực hòa quyện với nội dung tư tưởng qua sức soi sáng của nhà văn là một thực thể hiện hữu trong tác phẩm không thể xem thường hay phủ nhận. Ở đây, cá tính sáng tạo của người viết bộc lộ khá rõ. Nhà văn nhìn cuộc sống ra sao, ở góc độ nào, có gì thật sự mới mẻ, tất thảy đều liên quan trực tiếp tới tầm cỡ của tài năng và giá trị của tác phẩm. Gắn liền với sức khám phá đời sống là tầm cao và độ sâu của tư tưởng tác phẩm. Mọi tư tưởng (chính trị, triết học, khoa học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật...) đều có thể được nhà văn gửi gắm qua hệ thống hình tượng văn chương cụ thể, gợi cảm, đầy thuyết phục. Gần đây, nhiều nhà văn có thiên hướng quan tâm tới giá trị nhân bản và giá trị đạo đức. Đó là xu hướng có thể hiểu được khi văn chương trong hoàn cảnh mới đang trở về với cuộc sống đời thường của cá nhân con người. Có điều, không nên vì thế mà xem nhẹ việc thể hiện các dạng tư tưởng khác nhau của con người. Vấn đề còn lại chỉ là ở chỗ nội dung tư tưởng có ăn nhập với nội dung hiện thực, có gắn bó máu thịt với chi tiết và hình tượng nghệ thuật hay không mà thôi. Được vậy, tác phẩm sẽ có điều kiện cuốn hút lay động người đọc. Mối giao cảm với người tiếp nhận vừa là hệ quả tất yếu của hai yếu tố trên vừa gắn liền với một nhân tố có thể xem là là quyết định trong sáng tạo: Sự chân thực, chân thực đến cùng của người cầm bút. Nghệ thuật thực sự vốn không chấp nhận mọi sự giả tạo, mặc dầu nghệ thuật vốn là ước lệ, là cách điệu, là hư cấu. Thử thách cam go của nghề văn là thế. Cần dung hòa những thái cực khó dung hòa trong sáng tạo. Có vậy, tác phẩm văn chương mới mong đạt tới những giá trị đích thực vốn là khát vọng sáng tạo ngàn đời của những người cầm bút chân chính.

Đó là ba yếu tố làm nên những kiệt tác xưa nay. Có người sẽ hỏi: "Vậy tài nghệ sử dụng chất liệu nghệ thuật (trong văn chương là ngôn từ) nằm ở đâu?" chúng tôi không có ý xem thường mọi tìm tòi về thi pháp. Tuy nhiên hiệu quả nghệ thuật , theo tôi, là bằng chứng rõ rệt nhất của biệt tài sử dụng ngôn từ, nói rộng ra là tài nghệ sử dụng các phương tiện hình thức của nhà văn. Vả chăng, muốn tìm cái mới mà lại khởi phát từ ngôn từ thì tựa như người leo cây lại bắt đầu từ ngọn. Nhà văn Đức C.Vuôlf có nói: "Nếu trong tôi xuất hiện cảm giác rằng tôi không biết mình đang có một cái gì đó mới mẻ, khi đó, một là tôi không làm sao viết được và hai là tôi không cảm thấy mình đang sống". Câu nói vừa cho ta thấy nhu cầu sáng tạo vừa cho ta thấy điểm xuất phát của sáng tạo ở nhà văn. Đấy là nét tương đồng dễ nhận ra ở các nhà văn lớn.

 

                                                                                                                      Dalat, 01.1994