Phương pháp luận marxism và việc tạo dựng hệ thống lý luận văn chương hiện nay

    X

in được mở đầu bằng lời nhắc nhở thấu lý của I. Kant: “Con người vốn được trang bị bằng câu hỏi chứ không phải câu trả lời”. Dựa vào đó, học giả M. Kingwell bàn thêm: Tất cả bắt đầu bằng câu hỏi và có quá nhiều câu trả lời mà bất cứ triết lý nào dẫu sâu sắc và bao quát đến đâu cũng không thể dung chứa nổi (1). Tôi muốn mở rộng: Vô vàn câu trả lời trước duy nhất một câu hỏi, nhiều đến mức, không một trí tuệ nào của bất cứ ai, cho dầu là tài năng đứng trên muôn người, có thể dung chứa nổi. Vấn đề còn lại có lẽ chỉ là: mỗi cá nhân phải được phép trung thực, trung thực đến cùng (2).

Trước khi đi vào nội dung chính, tôi buộc phải trả lời hai câu hỏi: Một là, hiện trạng lý luận văn chương nước ta thật sự ra sao? Và, hai là, vì lẽ gì tôi lại tìm đến phương pháp luận marxism để nhận diện, lý giải và cùng giới lý luận tìm cách giải quyết hiện trạng này?

1. Có không, cuộc khủng hoảng lý luận văn chương hiện thời?

Gần đây, một câu hỏi hệ trọng và nóng bỏng luôn đối mặt với các nhà chuyên môn là: Có hay không sự khủng hoảng toàn diện của hệ thống lý luận văn chương nước nhà? Không dễ trả lời thỏa đáng. Muốn thế, trước tiên cần thống nhất, thế nào là khủng hoảng trên phương diện lý luận? Dễ tán đồng với quan niệm của A.V. Mikhailov: Sự khủng hoảng này rõ ràng là có hai mặt. Một mặt là sự lớn lên của cái mới, mặt khác là bệnh trưởng thành của khoa học” (3). Có sự gặp gỡ với ý kiến của Tiền Trung Văn: “Có người nghĩ, khủng hoảng trong lý luận văn học có nghĩa là lý luận văn học đã thoát ly tình hình sáng tác văn học rất nghiêm trọng. Một số người khác thì đòi hỏi đổi mới kiến thức, mở rộng phương pháp mới, tiến hành sáng tạo cái mới” (4). Vậy là, khủng hoảng lý luận thường được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, khủng hoảng là trạng thái ngưng trệ của nhận thức, khi đầu óc không theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của tiến bộ trong khoa học, lý luận không đáp ứng được những đòi hỏi mang tính lịch sử của sự phát triển. Theo nghĩa thứ hai, khủng hoảng là trạng thái ngưng đọng đến xơ cứng của một ngành khoa học, khi hệ thống khái niệm và phạm trù của nó không còn tương thích với thực tế đã nhiều đổi thay so với trước đó. Cả hai nghĩa của khái niệm khủng hoảng đều thấm nhuần tinh thần biện chứng marxism, yêu cầu luôn nhìn vạn vật trong sự vận động và biến đổi, được các nhà sáng lập chủ nghĩa marx tiếp thu trực tiếp từ Hegel.

Ngoái nhìn về quá khứ, mặc dầu còn có những ý kiến khác nhau, nhưng, trên đại thể, nhiều nhà nghiên cứu đã đi tới thống nhất cho rằng, đến giai đoạn 1932 – 1945, sau 30 năm kiên trì chuẩn bị có hiệu quả về nhiều mặt, không chỉ sáng tác, phê bình mà cả lý luận văn chương nước ta đã căn bản hoàn thành công cuộc hiện đại hóa theo chuẩn mực phương Tây. Từ đó trở đi, có thể thấy, lý luận văn chương hiện đại của dân tộc trong thế kỷ XX đã phải hai lần chuyển đổi căn bản. Sự chuyển đổi lý luận đầu tiên xảy ra ngay sau Cách mạng tháng Tám, khi toàn dân tộc, bằng mọi giá, phải tập trung cho yêu cầu sống còn là giành và bảo vệ độc lập cho nước nhà, đảm bảo sự thống nhất trọn vẹn của non sông. Sự chuyển đổi lý luận khi đó rõ ràng chủ yếu do những nguyên cớ nằm ngoài văn chương. Hầu như lý luận chỉ cần giải quyết một vấn đề duy nhất: mối quan hệ giữa văn chương, nghệ thuật với tuyên truyền chính trị. Hướng giải quyết cũng vô cùng đơn giản: đặt yêu cầu tuyên truyền trước và trên yêu cầu nghệ thuật. Nói gọn lại, văn chương, nghệ thuật hữu ích phải bằng mọi giá, bằng mọi cách đặt cái cần làm lên trên cái muốn và nên làm. Và thực tế, chỉ sau một thời gian ngắn, toàn bộ nền lý luận văn chương đã đi theo hướng này, hòa đồng làm một với Đường lối Văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang đặc điểm cơ bản là sự thu hẹp chức năng của lý luận đến mức có thể, mau chóng hòa nhập với tư tưởng chính thống, nhằm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chung của dân tộc.

Từ sau 1975, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp rồi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ kết thúc, lý luận văn chương tiến hành sự chuyển đổi lần thứ hai. Nguyên nhân cuộc chuyển đổi lần này vừa nằm trong nền tảng chính trị - xã hội vừa bắt nguồn từ chính những đòi hỏi nội tại của văn chương. Để giải quyết, chỉ tìm cách dung hòa với tư tưởng chính thống không thôi là chưa đủ, lý luận phải tự bứt phá, vươn tới để thật sự là mình Rất dễ hiểu là vấn đề đặc trưng văn chương lập tức trở thành trung tâm chú ý của những nhà lý luận cấp tiến. Nếu từ điểm nhìn này mà xét, có thể chia cuộc chuyển đổi lý luận lần hai thành hai chặng. Ranh giới giữa hai chặng cố nhiên không thể rõ rệt. Chặng đầu có thể xem được kết thúc vào năm 2000, sau mười lăm năm thực hiện khá thành công bước đầu tiên của sự nghiệp đổi mới toàn diện. Đó là quãng thời gian lý luận văn chương dân tộc dần dà ý thức sâu sắc về mình; hòa nhập sâu rộng vào thế giới theo hướng đa phương, đa cực; trang bị mọi điều kiện về tri thức, về phương pháp, nhất là về mô hình, với sự đối sánh nghiêm túc cả trong lẫn ngoài văn chương và biên giới, cả theo chiều lịch đại lẫn chiều đồng đại - tất thảy nhằm đi tới thiết lập một hệ thống lý luận văn chương có thể chấp nhận được. Nói khác đi, chỉ cần điều chỉnh, bổ sung những gì đã có, chưa nhất thiết phải thay đổi căn bản loại hình cấu trúc và hệ thống khái niệm của lý luận.

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình trong và ngoài nước, cũng như trong và ngoài văn chương, đã nhiều phần đổi khác. Ở chặng thứ hai này, người ta bắt đầu nhận thấy, ngày một rõ hơn, dấu hiệu khủng hoảng toàn diện về lý luận. Chỉ xin nêu một dẫn dụ có thể xem là điển hình: cuộc hội thảo lý luận, phê bình văn chương tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra vào 20/3/2004. Không khí khá thẳng thắn và cởi mở, vì thế có điều kiện lắng nghe những ý kiến trái chiều. Nhà nghiên cứu Trần Trọng Đăng Đàn nói: “Vấn đề hiện nay nằm ở phần lý luận […] chín bỏ làm mười. Hiện nay, trong các giảng đường ta giảng về lý luận như thế nào? [...] Đề nghị Trung ương định hướng rõ về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hướng của Trung ương thế nào chứ giảng viên không dạy nữa”. Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh tranh luận ngay: “Nên giải quyết cách khác: ai muốn giảng thì giảng”. Tôi hiểu lý do sâu xa khiến giáo sư Lê Bá Hán - một trong những nhà biên soạn giáo trình lý luận thuộc thế hệ đầu tiên của nước ta, kết thúc cuộc hội thảo, lại nóng lòng bầy tỏ: “Tình hình có nhiều cái đáng lo ngại. […] Trong nhà trường hiện nay đang rất lúng túng. Lý luận phương Tây giới thiệu nhiều nhưng tiêu hóa thế nào? Lý luận văn học thì dùng giáo trình cách đây mấy chục năm, còn những vấn đề mới giới thiệu khá lộn xộn, không có quan điểm gì. […] Cần một bộ sách lý luận mỹ học, lý luận văn nghệ mới. Bây giờ là mạnh ai nấy dạy, thích gì dạy nấy, không ai quản lý” (5). Xin không có bình luận gì thêm, chỉ từ đó rút ra một kết luận: hệ thống lý luận văn chương ở ta hiện đang rơi vào khủng hoảng hiểu theo cả hai nghĩa: vừa trì trệ, lỗi thời so với nhu cầu đổi mới toàn diện và triệt để, vừa cứng nhắc, sơ giản so với thực tế văn chương nhiều phần đã khác trước.

2. Vì sao cần tìm đến phương pháp luận marxism?

Để giải quyết vấn đề, tôi tìm đến tư tưởng của K. Marx và F. Engels. Vì sao tôi lại sử dụng phương pháp luận marxism khi mà nhiều người trên thế giới đã và đang tỏ ra hoài nghi, thậm chí phủ nhận, giá trị của chủ nghĩa marx trên phương diện lý thuyết? Có một thực tế là, không kể những kẻ chống phá điên cuồng ngay từ khi hình thành học thuyết marx - lenin, nhất là khi học thuyết này gây ảnh hưởng sâu rộng trên khắp thế giới, thì chừng vài chục năm trở lại đây, ngày càng có nhiều người đặt câu hỏi chung quanh ý nghĩa lý luận của chủ nghĩa marx, đặc biệt là chủ nghĩa lenin. Đấy là chưa nói tới thái độ phủ nhận thẳng thừng và triệt để sự vận dụng máy móc và cực đoan chủ nghĩa marx – lenin của Stalin, nhất là Mao Trạch Đông cùng một số nhà marxist tên tuổi khác. Tôi nghĩ, mọi chuyện nảy sinh đều có nguyên do, kể cả những nguyên do không dễ biện minh. Những người lên tiếng phản biện, phê phán chủ nghĩa marx – lenin đại để thường dựa vào cơ sở chủ yếu sau: Một hệ thống lý luận, nhất là một hệ thống tư tưởng xã hội, chỉ được coi là thật sự đúng đắn khi nó có khả năng soi sáng nhận thức của con người, từ đó, tạo ra sức mạnh cải biến hiện thực bằng những hiệu quả, những thành công hiển nhiên trên thực tế. Vậy sẽ giải đáp ra sao trước sự sụp đổ của cả hệ thống cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa trải dài từ Tây sang Đông vốn từng chứng tỏ cho toàn nhân loại thấy rõ tính vô địch cùng những ưu thế to lớn trên nhiều mặt?

Tôi không hoàn toàn bác bỏ sự hoài nghi đó. Chỉ có điều, về mặt nhận thức, những người lớn tiếng  phê phán, bài bác chủ nghĩa marx – lenin đã cố ý hay vô tình quên đi một vài điểm quan yếu sau: một, chủ nghĩa marx ra đời vào thế kỷ XIX không hề là sự ngẫu nhiên mà là sự tiếp nối và kết tinh tư tưởng văn minh của nhân loại; hai, tính lịch sử đi kèm với giới hạn của bất cứ học thuyết nào kể cả chủ nghĩa marx; ba, mọi hệ thống tư tưởng, lý luận, dẫu ưu việt đến đâu, cũng không thể giải quyết được mọi vấn đề vốn muôn hình vạn trạng, lại luôn nảy sinh, luôn biến đổi tùy từng nơi từng lúc; bốn, hiệu quả vận dụng mọi lý thuyết, mọi hệ tư tưởng bao giờ cũng tùy thuộc vào mục đích và năng lực của người vận dụng. Đấy là chưa nhắc tới nhận xét mới đây của F. Castro: Nếu chăm chú quan sát và tỉnh táo phân tích thì sẽ thấy, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu chỉ cần sớm điều chỉnh đường lối và nhanh nhậy trước thực tế hơn, thì có lẽ sẽ không dẫn đến sự đổ vỡ một thể chế mang tính toàn cầu đồng loạt và mau chóng đến thế.      

Nhưng thôi, đó là những gì đã xảy ra. Thật tiếc là có những sự thật khác rất ít người lưu tâm. Chẳng hạn, nhiều nhà lý luận Trung Quốc gần đây chủ động quay trở lại tìm hiểu nghiêm túc tư tưởng Marx và đã phát hiện rất nhiều điều bổ ích nhằm tạo dựng hệ thống lý luận văn chương theo tinh thần mới (6). Sẽ có người bảo, có gì lạ đâu khi biết xã hội Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đang đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cố nhiên là theo quan niệm của riêng họ. Thì đây, nhiều bằng chứng khác đến từ phương Tây. Gần nhất, trong sự khủng hoảng ngân hàng và tài chính trầm trọng bắt đầu ở Hoa Kỳ rồi nhanh chóng lan rộng sang hầu hết các nước tư bản khác từ vài tháng nay, tôi không lấy làm lạ khi được tin bộ Tư bản của K. Marx lại liên tiếp được tái bản và bán chạy chưa từng có. Đã rõ là định chế kinh tế tư bản đang có vấn đề, cần phải tham chiếu những ý thức hệ khác, tỉnh táo chỉnh sửa về căn bản, nếu không muốn rơi vào suy thoái trầm trọng đến mức đổ vỡ. Xa hơn một chút là hai lần điều tra xã hội học cách nhau chừng 5 năm của Đài BBC. Năm 1999, Ban biên tập cơ quan truyền thông Anh nổi tiếng này mở một cuộc thăm dò ý kiến dân chúng để lựa chọn xem trong lịch sử nhân loại ai là nhà tư tưởng vĩ đại nhất. Kết quả công bố sau đó đã làm không ít người ngạc nhiên: theo thứ tự, đầu tiên là K. Marx sau là Einstein, Newton và Darwin (7). Chắc không thật tin lắm vào kết quả cuộc điều tra này, bởi hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa dựa theo tư tưởng Marx đã sụp đổ mười năm trước, mà sao các "tác phẩm của ông với tư cách một triết gia, nhà khoa học xã hội, sử gia và nhà cách mạng vẫn còn được giới học giả ngày nay kính trọng”. Nhiều người nghĩ, niềm tin chính trị có thể đã chết nhưng niềm tin tôn giáo thì vẫn sống dẻo dai. Có lẽ vì thế mà vào năm 2005, Đài BBC lại quyết định thu thập ý kiến. Lần này giới hạn chân dung triết gia vĩ đại nhất thế giới của mọi thời, cũng qua lá phiếu như lần trước. Kết quả nghe đâu sẽ được công bố vào đầu tháng Bảy cùng năm. Tuy nhiên, theo tiết lộ của tờ Times ở London, triết gia dẫn đầu số phiếu bầu khi đó là K. Marx. Triết gia đứng hàng thứ hai là L.Wittgenstein. Kế tiếp theo thứ tự là D. Hume, Plato và I. Kant (8).  

Có lẽ, tôi đã làm một việc không mấy thuyết phục, bởi không thật chính đính cho lắm. Ai cũng biết, sức sống của một học thuyết không nằm ngoài mà nằm ngay chính trong học thuyết ấy. Mọi lời bàn bạc về nó, theo ý của các nhà hậu hiện đại, chỉ nên xem là những diễn ngôn (discourse), nghĩa là thấm đẫm tính chủ quan, khó tránh khỏi thiên lệch. Tuy nhiên, việc ấy nằm ở nền tảng của bài viết, tôi sẽ phải xác minh sau. Ở đây, tôi muốn nhắc lại hai câu chuyện, một xưa một nay, để chúng ta cùng suy xét. Trong Luận ngữ, một lần Vệ Công Tôn Triều  hỏi Tử Cống: “Khổng Tử học ở đâu?”. Tử Cống trả lời: “Đạo của vua Văn vua Võ chưa phải thất truyền, mà còn tản mát trong mọi người. Người giỏi biết được cái lớn, người tầm thường biết được cái nhỏ. Ai mà không có chút đạo của vua Văn, vua Võ?...” (Luận ngữ, 19 - 22). Còn P. Hoover thì kể về một cuộc gặp gỡ với một số nhà văn Việt Nam ở Hà Nội. Vì là chủ biên tuyển tập Thơ Hậu hiện đại Mỹ, nên, theo lời ông, “các nhà văn có mặt quan tâm nhiều đến những vấn đề trí thức và văn hoá gắn với chủ nghĩa hậu hiện đại. Họ thấy thật trớ trêu khi chủ nghĩa marx lại có ảnh hưởng đến lý thuyết văn học của chúng ta – PQT lưu ý” (Paul Hoover viết cho bạn đọc Mỹ).

Trong bài viết Thế hệ tiền-lý thuyết, nhà lý luận Nguyễn Hưng Quốc có nêu lên bốn điểm nhằm biện minh sự cần thiết không thể chối bỏ được của lý thuyết văn chương. Điểm đầu tiên là, tính lý thuyết, trong mức độ nhất định, bao giờ cũng  gắn liền với tính nhân văn. Sau đó, nhằm minh họa thêm cho tính nhân văn của lý luận, Nguyễn Hưng Quốc có dẫn ra một ý tưởng bản thân ông “rất tâm đắc” rút từ quan niệm của T. Eagleton, một nhà lý luận văn chương marxist người Anh: “Lý thuyết gắn liền với mọi hoạt động xã hội của con người. Theo ông, khác với các loài vật khác, con người không phải chỉ sống trong không gian vật lý mà còn sống trong một thế giới ý nghĩa được tạo thành bởi các ký hiệu” (9). Một điều lý thú là, có thể chính nhà marxist T. Eagleton đã không thể ngờ rằng F. Engels, chịu ảnh hưởng từ Hegel, đã nhận thức rõ tính nhân văn của lý thuyết trước đó rất lâu. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, F. Engels dừng lại phân biệt hai khái niệm dễ lẫn lộn là lý trí  lý tính. Từ gợi ý “có một ý nghĩa nhất định của Hegel, “chỉ có tư duy biện chứng mới có lý tính”, F. Engels phân tích sâu hơn và cụ thể hơn: “Chúng ta và các loài đều có chung tất cả các phương thức hoạt động của lý trí: quy nạp, diễn dịch, và do đó cả sự trừu tượng hóa nữa (khái niệm loài của con Điđô: loài 4 chân và loài 2 chân), phân tích những vật chưa biết (bửa trái hạnh đào ra đã là bước đầu của phân tích), tổng hợp (trường hợp những mánh khóe tinh nghịch của các con vật) và thực nghiệm với tính cách là tổng hợp hai phương thức trên (trường hợp gặp những trở lực mới và những hoàn cảnh khó khăn) – Những chữ in nghiêng có trong nguyên bản - PQT”. Nếu chỉ dừng ở những phương thức logic thông thường biểu hiện chung cho mọi hoạt động lý trí đó thì chưa có sự khác biệt về chất giữa người và vật. F. Engels cả quyết: “Xét về bản chất thì tất cả những phương pháp ấy […] đều hoàn toàn giống nhau ở loài người và ở các loài vật cao đẳng. Chúng chỉ khác nhau về trình độ (trình độ phát triển của phương pháp trong mỗi trường hợp nói trên)”. Nếu chỉ dựa vào sự hơn kém nhau về “trình độ” trong việc sử dụng những phương pháp sơ đẳng của lý trí, thì không thể phân biệt được người và vật. Người khác vật chủ yếu là ở chỗ khác, ở sự sở hữu vật vô giá có tên là lý tính, nghĩa là, như ý tưởng của Hegel, “có tư duy biện chứng”. F. Engels khẳng định phẩm chất đó “chỉ có thể có ở con người”, hơn thế, “chỉ ở con người đã phát triển ở trình độ tương đối cao (người Hy Lạp), và chỉ đạt đến sự phát triển đầy đủ của nó mãi về sau này, trong triết học hiện đại”. Mà bản chất của dạng tư duy cao cấp này ra sao? F. Engels giải thích: “… [t]ư duy biện chứng […] lấy việc nghiên cứu bản chất của ngay những khái niệm làm tiền đề - PQT nhấn mạnh” (10). Có thể thấy, theo phép biện chứng marxism, chỉ con người, nhất là con người phát triển, mới có tư duy biện chứng, tư duy lý luận.

Bởi thế, tôi không thật hiểu vì sao trường phái marxism (có lẽ nên gọi là trào lưu mới đúng vì phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của nó) ở phương Tây lại chưa được các dịch giả, các nhà lý luận của ta chú ý một cách thích đáng. Như nhiều người đã biết, lý thuyết văn chương marxism không chỉ xuất hiện một cách chính thống trong Cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Rất nhiều tên tuổi nổi bật khác ở phương Tây cũng đi theo xu hướng này nhưng với những biểu hiện khác nhau như C. Caudwell, T. Eagleton (Anh), Th. Adorno, W. Benjamin (Đức), P. Macherey (Pháp), F. Jameson (Mỹ)…chưa được làm quen nhiều ở Việt Nam. Không thật hiểu là vì trong khi chúng ta dường như thờ ơ thì nhiều học giả lớn trên thế giới đã công khai thừa nhận tác động sâu rộng như một trào lưu tư tưởng của chủ nghĩa marx và nói riêng là các lý thuyết văn chương marxism trong thế kỷ XX. J. Derrida trong tác phẩm Những bóng ma của Marx (1993) đã khẳng định: cần phải kế thừa di sản của chủ nghĩa marx (11). Riêng về mỹ học, vào năm 1991, trong cuốn sách lý luận nổi tiếng của mình, nhà nghiên cứu M. Mitchell coi lý thuyết marxism như một trong những trào lưu phê bình quan trọng nhất vào thời hiện đại (12). 

Nói đến ảnh hưởng của chủ nghĩa marx tới lý luận văn chương, và nói chung, tới toàn bộ tư tưởng của nhân loại, theo tôi, nên có một chút phân biệt. Trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa marx, lãng mạn và cao sang nhất chắc chắn là phần chủ nghĩa xã hội khoa học. Sơ cứng và sơ giản hơn có lẽ nằm ở phần kinh tế – chính trị học. Còn khoa học nhất, như nhiều người thừa nhận, hiển nhiên là ở phần triết học. Trong bộ phận đặc thù này của chủ nghĩa marx, mảng triết học duy vật lịch sử và mảng triết học duy vật biện chứng tác động cũng không đồng đều. Theo ý tôi, ưu thế thuộc về yếu tố sau hơn là yếu tố đầu. Đó chính là lý do khiến tôi, trong bài viết này, sử dụng phương pháp luận maxrsim được hiểu là phương pháp luận rút ra từ trước tác của cả K. Marx và F. Engels, nhằm gợi ý cách thức giải quyết một số vấn đề đặt ra trong việc tạo dựng hệ thống lý luận văn chương nước ta hiện nay. Cần nhấn mạnh thêm tới thuật ngữ phương pháp luận. Ở đây, có thể tán đồng với nhiều nhà nghiên cứu: phương pháp luận khác với phương pháp chủ yếu ở chỗ, cái trước gắn liền với một hệ tư tưởng nhất định, nghĩa là có quan hệ mật thiết với thế giới quan (13). Chính vì thế, phương pháp luận bao quát và triệt để hơn phương pháp. Ưu thế cũng như hạn chế của nó nằm ở đó. Có lẽ bởi vậy mà yêu cầu uyển chuyển trong vận dụng phương pháp luận bao giờ cũng cao hơn. Đúng như K. Marx nói: “Không những kết quả của việc nghiên cứu, mà tất cả con đường dẫn tới việc nghiên cứu, cũng phải là chân lý” (14).

3. Những thách thức mới của lý luận văn chương

Không chỉ cao hơn về tính uyển chuyển, phương pháp luận còn đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo ở tầm mức còn cao hơn hẳn. Nhất là trong tình hình hiện nay ở nước ta. Bởi, cuộc khủng hoảng lý luận văn chương diễn ra trong một điều kiện mới, hầu như chưa bao giờ gặp phải. Nhìn rộng ra, trải qua thời hiện đại, khủng hoảng trở thành một trong những dấu hiệu chung của trạng thái tinh thần con người khi phải đối mặt với quá nhiều thách thức từ thiên nhiên thứ nhất và cả thiên nhiên thứ hai do chính con người tạo ra. Trong bài Tương lai của Khai sáng, nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn cho rằng, nền văn hóa Khai sáng thoát thai từ cuộc cách mạng chính trị và công nghiệp với những đề án vĩ đại cũng có nhiều mặt trái của nó, trong đó có “một hậu quả trầm trọng ngay nơi chiếc nôi của nó: sự mất phương hướng về tinh thần và triết học” (15). Đấy là một đặc điểm hầu như bao trùm lên thời hiện đại trải dài suốt từ thế kỷ XVIII cho đến nay. Tuy nhiên, chưa bao giờ chúng ta lại có thể dễ dàng nghe thấy những tiếng kêu thảng thốt vang lên hầu như ở bất cứ đâu, trong bất cứ lĩnh vực nào, như bây giờ. Văn chương, và nói riêng là lý luận văn chương, cũng không, càng không là một ngoại lệ. Diệp Khuông Chính - nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng vào năm 2006 từng viết một loạt bài phê bình lịch sử văn hóa. Một trong những bài đó có cái tên nghe cứ như một sự hoảng loạn:“Văn học chết rồi! Đã sang thời đại văn học tương tác” (16). Đấy là sáng tác. Còn lý luận? Tình hình cũng chẳng khác. Cách đây vài năm, các nhà lý luận Trung Quốc tập trung thảo luận vấn đề phải chăng hệ thống lý luận văn chương đã tan rã? Người khẳng định, kẻ phủ định. Mức độ cũng khác nhau. Nhưng thái độ chung là không một ai tỏ ra hài lòng. Tôi đặc biệt quan tâm tới ý kiến của học giả Lý Xuân Thanh (Đại học Bắc Kinh): thực tế đã phá bỏ cái khung lý luận vốn có; một số vấn đề lý luận không được coi trọng như trước đây; người nghiên cứu lý luận ngày nay không ai còn hứng thú để bàn đến bản chất của văn chương, nguyên tắc sáng tác và quy luật phát triển của văn chương nữa (17). Ở một xứ sở khác, nhà nghiên cứu Hoa Kỳ L.Waters cũng đưa ra nhận xét với một cái nhìn và thái độ tương tự. Ông viết: “Nghiên cứu văn học hàn lâm bây giờ đã bị bật gốc, nó không còn gắn với mảnh đất văn học, là nơi từ đó nó sinh ra”. Rồi ông nói rõ hơn: “Những gì diễn ra trong bốn bức tường của các khoa văn học dưới cái nhãn hiệu nghiên cứu văn học, thảy đều là kinh viện. […] Nghiên cứu văn học hôm nay không muốn hiểu bản chất và tính chất của tác động thẩm mỹ, nó không quan tâm cái cách con người phản ứng với nghệ thuật” (18).

Một trong những nguyên do chính yếu, có thể xem là gốc gác, của cuộc khủng hoảng lý luận mang tính toàn cầu nằm trong ảnh hưởng sâu rộng của chủ nghĩa hậu hiện đại. Mới đây, trong bài viết dài hơi Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần) chết trong văn học Việt Nam, Nguyễn Hưng Quốc đã phân tích khá tường tận điều này. Như nhiều người đã biết, một trong những đặc điểm nổi bật của lý thuyết này là sự hoài nghi mọi siêu tự sự (19), nguyên do, theo ông, là bởi nhân loại đã bước vào thời nhiều thứ bị/được khai tử, mà đáng nói nhất là “cái chết của chân lý”. Không ai hiểu một cách thô thiển, chết ở đây có nghĩa là sự tuyệt diệt. Nhưng thái độ xem thường, hạ thấp vai trò của chân lý là rõ rệt. Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Hưng Quốc lại dẫn ra lời mai mỉa vốn được phát biểu từ lâu bởi Nietzsche: “Chân lý là gì?[…] Chân lý là những ảo tưởng về những gì người ta đã quên bẵng rằng nó vốn là ảo tưởng; những ẩn dụ đã sáo rỗng và không còn khả năng gây chút ấn tượng nào nữa; những đồng tiền cắc đã mòn hết hình ảnh, chỉ còn trơ lại một mảnh kim loại, chứ không còn là đồng tiền nữa” (20). Hệ luận tất yếu là sự khai tử công khai những tri thức bao quát, được hiểu như là sự đúc kết những mặt bản chất và quy luật của hiện thực vô bờ. Con người từ đây không còn hy vọng được trang bị hệ thống tri thức quy mô, khả tín về thế giới, và vì thế, cũng từ bỏ luôn khát vọng vươn tới vương quốc tự do đích thực về tinh thần, trong năng lực làm chủ thực sự thế giới tự nhiên và xã hội vốn ẩn tàng nhiều hiểm họa.

Điều này đồng thời có nghĩa, mọi lý thuyết cũng bị/được đặt trong ngoặc đơn. Cái nhìn hậu hiện đại đi cùng với cái nhìn hậu lý thuyết. Trong một bài viết khác trước đó - Thế hệ tiền-lý thuyết, Nguyễn Hưng Quốc đưa ra nhiều tư liệu rất đáng suy nghĩ. Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, người ta không còn có điều kiện chứng kiến sự xuất hiện liên tục trong sự cạnh tranh gay gắt giữa các trường phái lý thuyết như mấy chục năm trước đó nữa. Nói như tác giả bài viết, “nền văn học thế giới bắt đầu im ắng dần”. Cứ đọc những tựa đề một số cuốn sách lý thuyết cũng đủ rõ: Những tận cùng của lý thuyết do J. Herron, D. Huson, R. Pudaloff và R. Strozier biên tập (1996), Sau lý thuyết của Th. Docherty (1996), Hậu lý thuyết của M. McQuillan (1999), và Ðời sống sau lý thuyết do M. Payne và J. Schad biên tập, (2003), v.v... Một số nhà lý luận tự xem mình thuộc thế hệ “hậu lý thuyết”. Thực trạng đó có nhiều nguyên do. Người thì bảo, không còn nhiều tài trợ cho các công trình lý thuyết như trước. Có học giả lại nói, chẳng qua là con người dừng lại suy gẫm, để rồi sẽ đi tiếp, nhanh hơn và mau tới đích hơn… Có điều, “sau lý thuyết” hay “hậu lý thuyết”, theo Nguyễn Hưng Quốc, “không phải là không có lý thuyết, là bất cần lý thuyết, là ngoảnh lưng lại với lý thuyết”. Hơn thế, ông còn cả quyết: “‘Thế hệ hậu lý thuyết’, cũng do đó, là thế hệ lớn lên và được đào tạo trong môi trường lý thuyết, vẫn không thoát khỏi ám ảnh về lý thuyết, tuy nhiên, cách tiếp cận lý thuyết của họ khoan hoà và có tính chất chiết trung hơn: họ có thể dung hợp nhiều lý thuyết chứ không nhất thiết phải sống chết với một lý thuyết nhất định nào đó” (21). Nói như trong một cuốn sách của tác giả khác, lý thuyết văn chương chưa chết như nhiều người đã phán quyết, nó chỉ thoái hóa thành ra nhiều mảnh vụn. Minh chứng rõ nhất có thể tìm thấy trong tình trạng giảng dạy lý thuyết văn chương ở các trường đại học ngày nay (22).

 Dẫu biện luận thế nào, ta cứ nghe văng vẳng tiếng nói hoài nghi sự tồn tại của lý thuyết, hay chí ít cũng là sự hoài nghi ý nghĩa của lý thuyết. Điều này hoàn toàn xa lạ với quan niệm của chủ nghĩa marx. Nói riêng về ý nghĩa của lý thuyết đối với một dân tộc, F. Engels khẳng định: “Nhưng một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” (23). K. Marx thì đưa ra cái nhìn bao quát hơn: “Thậm chí xét theo quan điểm lịch sử thì sự giải phóng về mặt lý luận […] cũng có một ý nghĩa đặc biệt thực tiễn” (24). Thực ra, gốc gác của việc xem thường lý luận hiện thời, như đã nói, nằm ở chủ nghĩa hậu hiện đại, mà bản thân nó cũng đang ẩn tàng nhiều vấn đề, nếu nhìn từ phép biện chứng marxism. Hiện nay, ở nước ta, thái độ đối với chủ nghĩa hậu hiện đại còn phân liệt. Nhiều người ủng hộ rất nhiệt thành, nhiều người lại hoài nghi rất triệt để. Phần đông thì dè dặt. Cái chính là bởi chưa hiểu được cặn kẽ. Chẳng phải vì nội hàm của chủ nghĩa hiện đại quá cao siêu. Chủ yếu là do chưa có được sự thống nhất về nghĩa. Lúc rộng để chỉ điều kiện và môi trường văn hóa, khi hẹp lại khuôn vào một trào lưu nghệ thuật. Chưa hết, nghĩa của chủ nghĩa hậu hiện đại không chỉ thay đổi từ người này qua người khác, mà còn không nhất quán vào những thời điểm khác nhau từ khi manh nha vào giữa thế kỷ XX cho đến nay. Hơn nữa, ta chưa kịp hiểu đến nơi đến chốn thì người ta đã nói tới thời kỳ sau hậu hiện đại thay thế nó, nghĩa là gián tiếp tuyên bố sự kết thúc của chủ nghĩa hậu hiện đại. Thật ra, ở ta đã có nhiều bài báo, thậm chí một số công trình dầy dặn - Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lý thuyết (Nxb. Hội Nhà văn, 2003), Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại (Nxb. Trẻ, 2004), Hoàn cảnh hậu hiện đại (Nxb. Trí thức, 2007)…giới thiệu khá toàn diện về chủ nghĩa hậu hiện đại. Như thế vẫn là quá ít, là chưa đủ. Nhất là trước một lý thuyết đa tạp và phong phú, lại đang diễn biến như chủ nghĩa hậu hiện đại. Các công trình chủ yếu dịch từ nước ngoài và có phần nghiêng về giới thiệu. Nhưng cũng không thể bảo là quá thiếu tư liệu tìm hiểu để bầy tỏ thái độ. Mạng internet bằng tiếng Việt hỗ trợ thật đáng kể. Bởi vậy, tôi không thật nhất trí với ý kiến của Nguyễn Hưng Quốc: “Xin lưu ý: bằng tiếng Việt, cho đến nay, chưa ai chống lại chủ nghĩa hậu hiện đại từ góc độ học thuật; người ta chỉ chống lại những nỗ lực giới thiệu chủ nghĩa hậu hiện đại vào văn học Việt Nam. Chống lại việc giới thiệu là chống lại cái mà người ta chưa biết. Chống lại cái người ta chưa biết là chống lại một nỗi sợ” (25). Một số bài viết với quy mô và mức độ khác nhau của các nhà nghiên cứu Việt Nam đã phân tích có phê phán chủ nghĩa hậu hiện đại cả trên phương diện lý thuyết lẫn phương diện ứng dụng. Có lẽ chưa thật thấu đáo và triệt để, vì vậy, chưa làm thỏa mãn người đọc. Nhưng cho rằng, “bằng tiếng Việt, cho đến nay, chưa ai chống lại chủ nghĩa hậu hiện đại từ góc độ học thuật” là không thật đúng. Từ đó, suy ra “người ta chỉ chống lại những nỗ lực giới thiệu chủ nghĩa hậu hiện đại vào văn học Việt Nam” càng khó thuyết phục hơn.

Điều đáng nói là nếu xuất phát từ lập trường marxism cũng có thể cơ bản nhìn nhận ra thực chất của chủ nghĩa hậu hiện đại. Có thể biểu hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại rất đa dạng, nhưng điểm chính yếu, theo tôi, là lý thuyết này quá chú trọng tới cái riêng, cái cụ thể, cái cảm tính mà xem nhẹ, hạ thấp, thậm chí đi tới phủ nhận cái chung, cái khái quát, cái lý tính. Những nhà marxist chân chính gọi đó là phương pháp siêu hình. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên F. Engels đã đi từ phép biện chứng thuần phác của triết học cổ điển Hy Lạp để phê phán chủ nghĩa siêu hình trong triết học thế kỷ XVII và XVIII biểu hiện qua Bê-cơn và Lốc-cơ ở Anh, Vôn-phơ ở Đức. F. Engels cho rằng, trong triết học Hy Lạp, tư duy chưa bị ngáng trở bởi  phương pháp siêu hình, nên còn thuận theo con đường đúng đắn là “tiến từ sự hiểu biết cái cá biệt đến sự hiểu biết cái toàn thể, đến sự thấu suốt mối liên hệ phổ biến của sự vật”. Ấy là do, theo lời F. Engels, “[n]gười Hy Lạp chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể ấy. Mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về chi tiết; đối với họ, mối liên hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp”. Đó chính là thiếu sót của triết học Hy Lạp, do đó mà sau này, nó buộc phải nhường chỗ cho những cách nhìn khác của những trường phái khác. Nhưng chính đó cũng là ưu điểm của triết học cổ Hy Lạp so với tất cả các địch thủ siêu hình sau này của nó, như F. Engels đã phân tích tiếp: “Nếu về chi tiết, chủ nghĩa siêu hình là đúng so với những người Hy Lạp, thì về toàn thể những người Hy Lạp lại đúng hơn so với chủ nghĩa siêu hình”. Đó là một trong những lý do làm cho, trong triết học cũng như trong nhiều lĩnh vực khác,chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của cái dân tộc nhỏ bé đó”. Nhưng còn có nguyên do khác, có khi quan yếu hơn là ở chỗ, “từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này” (26). Có thể xem chủ nghĩa hậu hiện đại hình thành và phát triển nửa sau thế kỷ XX thuộc trong số đó. Tôi nghĩ, trong câu nói này, hàm chứa không chỉ một cái nhìn thấu suốt, mà còn một óc tiên đoán tài tình.

Đấy là lý do chính khiến chủ nghĩa hậu hiện đại nói nhiều và hầu như có xu hướng đề cao cái gần, cái hình, cái nhỏ, cái phụ, cái ngoại diên, cái dung tục, cái bị khinh khi, cái bị trà đạp…Thực chất là sự khôi phục địa vị của cái dưới so với cái trên, cái ngoài so với cái trong, cái tục so với cái thiêng, rộng hơn, bao quát hơn, là sự khôi phục địa vị của  cái riêng so với cái chung, cái cụ thể so với cái khái quát, cái cảm tính so với cái lý tính vốn bị chủ nghĩa hiện đại trong một thời gian dài có xu hướng không thật coi trọng, thậm chí có lúc có nơi đi tới phủ nhận. Đáng lẽ tìm đến sự thống nhất, hài hòa giữa các mặt đối lập biện chứng nói trên, thì các nhà hậu hiện đại lại chỉ nhấn cái cần nhấn, tạo nên sự thiên lệch mới chẳng thuyết phục gì hơn. Mà cái kém thuyết phục nhất chính là sự hoài nghi khả năng nhận thức bản chất của sự vật. F. Engels nhận xét, khuynh hướng đó, nếu “xét một cách trừu tượng, thì nó có vẻ là hoàn toàn hợp lý”, nhưng: “Sự khẳng định cho rằng chúng ta không có năng lực nhận thức được vật tự nó (Hegel), thì một là, thoát ra khỏi lĩnh vực của khoa học và chuyển vào lĩnh vực của ảo tưởng. Hai là, nó hoàn toàn không mang lại gì thêm cho tri thức khoa học của chúng ta, vì nếu chúng ta không có khả năng nghiên cứu các sự vật, thì chúng không tồn tại đối với chúng ta. Và ba là, sự khẳng định ấy chỉ là một câu rỗng tuếch và không bao giờ có thể áp dụng được trong thực tế” (27). Như thế là minh bạch trong nhìn nhận và dứt khoát về thái độ.

4. Cùng nhìn lại di sản lý luận văn chương Việt Nam thế kỷ XX

Có điều, muốn xây dựng hệ thống lý luận văn chương mới, cần nhìn nhận lại thẳng thắn và trung thực, khách quan và công bằng toàn bộ di sản lý luận trong quá khứ, mà trực tiếp và bổ ích nhất là lý luận thế kỷ XX vừa qua đi. Giáo sư Trương Tửu – một nhà nghiên cứu thuộc lớp người vận dụng triệt để phương pháp luận marxism đầu tiên ở nước ta, từ rất sớm, đã rất tâm đắc với câu triết lý Pháp mà ông dịch thanh thoát ra tiếng Việt là: “Nếu không đoạn tuyệt với quá khứ, thì không thể tiếp tục được quá khứ” (28). Có thể chính ông đã thấm nhuần tư tưởng của K. Marx khi tiếp nhận ảnh hưởng đến từ bên ngoài. Nhà sáng lập ra chủ nghĩa marx từng viết: “Cuộc cách mạng xã hội của thế kỷ XIX chỉ có thể tìm được thi hứng của mình ở tương lai, chứ không phải ở quá khứ. Nó không thể bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của bản thân nó chừng nào nó chưa hoàn toàn tẩy rửa được hết mọi mê tín đối với quá khứ” (29). Nói tới sự “tẩy rửa hoàn toàn” làm tan biến “mọi mê tín đối với quá khứ” cũng tức là nói sự nhận chân mang tính phê phán đối với quá khứ. Nhiều nghệ sỹ, học giả lớn xưa nay đôi khi còn đặt sự cần thiết nhận thức tư duy phê phán về mình của một dân tộc, vào một thời điểm nhất định, lên trên cả tư duy sáng tạo. T. Eliot trong Truyền thống và tài năng cá nhân đã nghĩ như thế: “Mỗi một dân tộc, mỗi một chủng tộc đều có vốn trí tuệ đặc biệt của mình, không chỉ trí sáng tạo mà còn cả trí phê phán; và mỗi dân tộc dù ở mức thấp nhất cũng đều thức nhận được những nhược điểm và hạn chế của tư duy phê phán hơn là những nhược điểm của tư tưởng sáng tạo” (30). Tôi thì nghĩ, dân tộc nào, thời đại nào, lĩnh vực nào cũng nên cần cả hai khả năng phê phán  sáng tạo; chúng nâng đỡ và hỗ trợ cho nhau, từ đó, có thể đưa tới những thành công khó ngờ nhất. 

Cho đến nay, có thể nói, qua nhiều hội nghị, hội thảo khoa học với những quy mô và tính chất khác nhau, giới nghiên cứu nước ta đã khá sòng phẳng trong nhìn nhận, đánh giá di sản lý luận văn chương thế kỷ XX. Hãy loại bỏ những cái nhìn cực đoan, như phủ nhận hoặc đánh giá quá thấp lý luận văn chương dân tộc (31), chỉ nói riêng trong xu hướng thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của nó, có thể nhìn nhận một cách bao quát như sau: Do hình thành và phát triển trong một hoàn cảnh đặc biệt, lý luận văn chương nước ta so với nhu cầu của dân tộc và sự nghiệp thì còn rất bất cập, và thời gian càng trôi qua thì càng tỏ ra bất cập; so với yêu cầu của tính hiện đại thì còn lạc hậu, lỗi thời, và xem ra tình trạng này còn kéo dài nếu không có sự nỗ lực vượt bậc của toàn đội ngũ; so với diễn biến nhanh chóng của thực tiễn văn chương thì tỏ ra xơ cứng, mờ nhạt, hạn hẹp, thậm chí méo mó; so với những thành tựu lý luận văn chương của các nước tiên tiến thì vừa nghèo nàn, đơn điệu, lại vừa giản đơn, thô thiển. Có lẽ, riêng trên lĩnh vực lý luận, nỗi lo ngại chính đáng của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã phần nào được khỏa lấp. Trong một bài viết in trên Báo Văn nghệ, ông có bàn tới nguyên do của sự tha hóa đang có nguy cơ lan tràn trong xã hội chúng ta, và đi tới yêu cầu một cách nghiêm túc: “Ít ra chúng ta cũng nên sòng phẳng với nhau, sự đánh giá chính xác về bản thân nên được xem như một phần di sản của một lớp người đã trưởng thành để lại cho các lớp kế tiếp” (32).

Tuy nhiên, theo tôi, cái ta còn thiếu trong việc nhìn nhận lại di sản lý luận là sự phân tích cụ thể, thấu đáo nhằm, nói theo lời của K. Marx, “hoàn toàn tẩy rửa được hết mọi mê tín đối với quá khứ”, tránh sa vào những vết xe đổ của lịch sử, từ đó, mới mong có những động lực mạnh mẽ “thực hiện nhiệm vụ của bản thân” để có thể “tìm được thi hứng của mình ở tương lai”. Nói khác đi, nhà phê phán tích cực không nên trở thành “những thầy tu phi triết học” như K. Marx từng gọi một cách chế nhạo khi đả kích bài xã luận một tờ báo vùng Ranh nước Đức đương thời. Ý kiến của K. Marx cụ thể như sau: “[t]riết học nói về những đề tài tôn giáo và triết học không giống như các vị (tức “những thầy tu phi triết học”). Các vị nói về đề tài ấy mà không hề nghiên cứu chúng; triết học nói về chúng sau khi đã nghiên cứu chúng; các vị hướng về tình cảm, triết học hướng về lý trí; các vị nguyền rủa, than vãn, triết học dạy bảo; các vị hứa hẹn thiên đàng, triết học không hứa hẹn gì cả ngoài chân lý; các vị đòi hỏi tin tưởng tín ngưỡng của các vị, triết học không đòi hỏi tin tưởng vào các kết luận của nó, nó đòi hỏi kiểm nghiệm những hoài nghi; các vị dọa dẫm, triết học an ủi” (33). Nếu để ý sẽ thấy vẫn còn khá nhiều nhà nghiên cứu ở ta, trong phê phán, vẫn nặng về “tình cảm”, hơn là “lý trí”, giữ thói quen ‘nguyền rủa, than vãn” hơn là “dạy bảo” một cách minh triết, ưa “hứa hẹn thiên đàng” hơn là “hứa hẹn…chân lý”, đòi hỏi “tin tưởng tín ngưỡng” hơn là “tin tưởng vào các kết luận” được “kiểm nghiệm” bằng “những hoài nghi”, luôn thích “dọa dẫm”, đe nẹt hơn là “an ủi”, động viên cùng nhau bắt tay vào hành động Bởi vậy, rất cần sự phân tích cặn kẽ tới nơi tới chốn những mặt ưu, nhất là những mặt liệt của lý luận văn chương vốn ra đời và diễn biến trong hoàn cảnh đặc thù của lịch sử dân tộc. Nhất là, cần chỉ ra nguyên nhân sâu xa chi phối từ bên trong, quyết định những biểu hiện bề ngoài như đã nhận biết.

Xin được nêu một dẫn dụ. Ta dễ dàng nhận ra hệ thống lý luận văn chương của ta còn chưa giàu có về quan niệm, đa dạng về loại hình và cấu trúc. Ở ta thực tế mới có lý luận cơ bản, lý luận quy phạm mà thiếu hẳn lý luận ứng dụng, lý luận miêu tả. Tính học viện, đặc biệt tính học đường còn khá nặng nề. Hầu như trong suốt nửa sau của thế kỷ XX chỉ tồn tại duy nhất hệ thống lý luận văn chương dành cho nhà trường, thường là những công trình tập thể, được chia làm hai ngả tổng hợp  sư phạm, với những mục đích có phần khác nhau. Gọi tên và mong mỏi là thế, nhưng, về cơ bản, kết cấu và quan niệm, quan điểm của hai bộ sách đều từa tựa như nhau, và không khác cuốn Văn học khái luận của Đặng Thái Mai ra đời vào năm 1944 là mấy. Trong khi vào thời gian đó, ở phương Tây, hệ hình lý luận đã hơn một lần thay đổi. Theo một nhà lý luận văn chương hải ngoại thì ở các quốc gia nói tiếng Anh, vào cuối thập niên 1940 và suốt thập niên 1950, cuốn Lý luận văn chương của R. Wellek và A. Warren được xuất bản lần đầu tiên năm 1949 được xem là tiêu biểu nhất cho xu hướng lấy chức năng, bản chất của văn chương trong tương quan với tư tưởng, tâm lý, xã hội và các loại hình nghệ thuật khác làm nội dung chính yếu của hệ thống lý luận. Tuy nhiên, từ giữa thập niên 1960 trở đi, tư tưởng văn chương càng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn, khung cấu trúc quen thuộc trên không còn đủ sức dung chứa  những cách kiến giải mới mẻ khác nhau nữa. Từ đấy, phần nhiều các cuốn sách về lý thuyết văn chương đều chọn lối tiếp cận theo các trường phái. Ba tập sách được sử dụng như những tài liệu tham khảo phổ biến và đáng tin cậy nhất tại các đại học nói tiếng Anh từ giữa thập niên 1980 đến đầu thập niên 1990 của T. Eagleton (1983), do A. Jefferson và D. Robey biên tập (1986) và của R. Selden (1989) là những dẫn chứng nổi bật. Vào những năm cuối của thế kỷ XX đến nay, cách tiếp cận theo trường phái cũng trở thành lỗi thời. Trong cách nhìn thấm đẫm tính thần hậu hiện đại vốn hoài nghi mọi đại tự sự, cấu trúc các cuốn sách lý luận bị phân mảnh và mang dấu ấn cá nhân rõ rệt. Có thể coi tập sách của J. Culler ra đời năm 1997 là một minh chứng điển hình. Đúng như ông ta từng thừa nhận: viết về lý thuyết, người cầm bút không thể tiếp tục trình bày tư tưởng của mình một cách vô cảm về từng khái niệm hay từng vấn đề nữa, mà anh ta phải lao vào những cuộc tranh luận gay gắt với vô số những người, xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, không đồng ý với anh ta, nhiều khi ngay từ những điểm căn bản nhất (34).

Để có thái độ thỏa đáng, có lẽ ta không nên trách cứ các nhà biên soạn sách giáo khoa, giáo trình lý luận tập trung ở các trường đại học. Họ đã làm hết mình vì chức trách không thể thoái thác. Nhiều người trong số họ là những nhà khoa học đầu ngành, vừa có óc tư duy lý luận sắc sảo vừa có phương pháp sư phạm mẫu mực. Các công trình lý luận, sản phẩm nhiều năm lao động miệt mài, nghiêm túc và không ít sáng tạo của họ, thật sự có ý nghĩa, và không chỉ giới hạn trong phạm vi học đường. Tôi không tán thành với Nguyễn Hưng Quốc khi ông bảo rằng: “Có thể nói chống-lý-thuyết, hay nhẹ hơn, ngại lý thuyết, là một trong những truyền thống lớn nhất trong văn học Việt Nam” (35). Tuy nhiên, đội ngũ này cùng những bộ giáo trình, sách giáo khoa được họ biên soạn khó tránh khỏi giới hạn tất yếu của hoàn cảnh chung, nhất là điều kiện của dân tộc, lịch sử cũng như thời đại. Tôi cho là thấu lý ý kiến sau của K. Marx: “Ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy. […] Những nhu cầu lý luận liệu có trực tiếp trở thành thực tiễn hay không? Tư tưởng cố sức biến thành hiện thực vẫn chưa đủ, bản thân hiện thực cũng phải cố sức hướng tới tư tưởng” (36). Nhiều người thường phàn nàn là dân tộc ta không có truyền thống tư duy trừu tượng, nên tư tưởng, học thuật hiển nhiên là kém cỏi. Bẳng cớ là Việt Nam chưa từng sản sinh ra trường phái tư tưởng, lý luận nào thật sự đáng kể cả. Đóng góp cho nhân loại về phương diện này gần như không có. Chủ yếu là học tập, tiếp thu từ bên ngoài. Lại thường chắp vá, phiến diện và nhất là rất thực dụng. Không có xu hướng đối lập nội sinh, không được cọ sát, tranh chấp nội tại, nên lý luận không có điều kiện trưởng thành. Trước thực tế ấy, có người tự mơn chớn bằng lòng tự hào dân tộc đến mức khó hiểu. Thôi thì không có truyền thống này thì ta có truyền thống khác. Văn chương cổ điển Việt Nam nào có kém cạnh gì ai! Ông trời chẳng thiên vị ai bao giờ. Có người thì chép miệng tự an ủi. Có phải dân tộc nào cũng đều có di sản lý thuyết đồ sộ cả đâu. Để tồn tại và phát triển, họ đều nối mạch, liên thống với thế giới. Mà suy cho cùng, có học thuyết nào phát sinh lại không chịu ảnh hưởng từ nhiều nền văn hóa dị vực, dị chất khác nhau, cả Đông lẫn Tây. Vậy phải xem đó là những tài sản chung của nhân loại, nào quyền sở hữu của riêng ai! Không ít người, tài năng và bản lĩnh, muốn vượt qua mọi giới hạn. Nhưng rồi cuối cùng hầu như cũng đều thấm thía, rằng một mình vượt thoát ra khỏi ranh giới của dân tộc là khó, thậm chí là không thể. Đúng như nhận định tiếp theo của K. Marx: “Nhưng nếu một cá nhân không bị giàn buộc bởi những ranh giới quốc gia thì không phải một cá nhân được tự do mà toàn thể quốc gia cũng được tự do. Trong số những nhà triết học Hy Lạp, đã có một người Xkiphơ, nhưng điều đó tuyệt nhiên đã không làm cho người Xkiphơ tiến đến nền văn hóa Hy Lạp được bước nào” (37).

Một cách nhìn tương tự sẽ giúp chúng ta khoan dung, khoan hòa hơn trong phán xét. Nhưng dẫu biện hộ thế nào thì những khiếm khuyết, hạn chế, tạo ra những níu kéo, ràng buộc của chương trình lý luận học đường vẫn rất cần được chỉ ra, hơn thế, rất cần được lý giải cho tới ngọn ngành. Ở đây, thật là thích hợp, nếu trở về với tư tưởng của F. Engels - người đã từng lên tiếng chê trách thứ chủ nghĩa chiết trung về học thuật trong luận văn nổi tiếng Biện chứng của tự nhiên. Ông viết: “Trong các trường đại học, các thứ chủ nghĩa chiết trung khác nhau cạnh tranh với nhau và chỉ giống nhau ở một điểm là tất cả những chủ nghĩa ấy đều là những mảnh vụn của các triết học đã lỗi thời đem chắp vá lại và tất cả đều siêu hình. […] Kết quả cuối cùng là một tình trạng rời rạc và hỗn độn hiện đang thống trị trong tư duy lý luận” (38). Có lẽ F. Engels đã định danh đích đáng căn bệnh trầm kha của hệ thống lý luận học đường ở ta. Đó quả là thứ tư duy “siêu hình” mong muốn “chắp vá lại” “những mảnh vụn” tri thức, được rút tỉa từ nhiều nguồn khác nhau, trước đây chủ yếu là những cuốn sách lý luận của Pháp, sau đó của Liên Xô, và gần đây là của phương Tây. Nhất quán với quan niệm trên là ý kiến trong phần đầu cuốn sách danh tiếng khác của F. Engels - Chống Đuyrinh: “Thứ chủ nghĩa xã hội chiết chung đó là một mớ hỗn hợp gồm những nhận xét phê phán ôn hòa hơn…của các nhà sáng lập ra các trường phái, một mớ hỗn hợp mà người ta càng dễ có hơn, chừng nào những góc cạnh sắc bén, những sự khác biệt của những bộ phận cấu thành của nó càng bị bào mòn đi trong cái dòng tranh cãi, giống như những hòn cuội trong dòng nước chảy” (39). Đã đành chương trình bộ môn nào cũng phải có tính ổn định và tính chuẩn mực. Môn lý luận văn chương không thể đứng ngoài. Có điều, tri thức thì luôn biến động và biến đổi, ổn định kéo dài tất sẽ lỗi thời; thực tiễn cũng luôn chuyển động, chuyển hóa, chuẩn mực thống trị lâu tất sẽ khuôn cứng. Đáng nói là để thỏa mãn yêu cầu ổn định và chuẩn mực, các nhà biên soạn sách, như F. Engels nói, đã nương theo tinh thần“ôn hòa hơn” “dễ có hơn”, nhằm “bào mòn góc cạnh sắc bén, những sự khác biệt của những bộ phận cấu thành của nó”, để cuối cùng biến lý luận vốn đa dạng, nhiều chiều và giàu có trở thành “những hòn cuội trong dòng nước chảy” cuồn cuộn giàu chất phù sa của đời sống văn chương. Học sinh, sinh viên là chủ thể tiếp nhận và sáng tạo văn chương trong tương lai. Vậy giữa cái lợi và cái hại, cái nào trội hơn đây? Thật khó trả lời. Hóa ra lời khuyến cáo của D. Diderot trong Cháu ông Rameau cách đây chừng hai thế kỷ rưỡi vẫn còn nóng hổi ý nghĩa thời sự. Nhân vật Hắn dạy đệm đàn và soạn nhạc mà “không biết tý gì về đàn về nhạc cả”, nhưng Hắn biện hộ: “Ít ra tôi đã không làm hỏng óc suy xét cũng như đôi bàn tay của lũ trẻ. Vì chúng chưa học được gì, nên khi từ tôi chuyển qua một ông thầy giỏi, ít ra chúng cũng không phải xóa đi những điều đã học; và thế là luôn luôn tiết kiệm được cả tiền bạc lẫn thời gian” (40).

Đi sâu hơn, F. Engels còn chỉ ra phương cách mà các nhà chiết trung chủ nghĩa quen sử dụng để tư duy. Đó chính là phương pháp tiên nghiệm. Ông phân tích: “Phương pháp này (của Đuyrinh) phân chia mỗi nhóm các đối tượng của nhận thức ra thành những yếu tố dường như là đơn giản nhất của chúng, rồi đem ứng dụng vào những yếu tố ấy những định đề cũng đơn giản như thế, dường như là hiển nhiên, rồi sau đó lại tiếp tục vận dụng những kết luận đã đạt được như vậy”. Ngay cả những vấn đề thuộc lĩnh vực đời sống xã hội vốn cực kỳ phức tạp, theo Đuyrinh, “cũng phải được giải quyết bằng những định đề, dựa trên những hình thức cơ bản đơn giản, cá biệt, làm như thể đây là đang nói đến những hình thức cơ bản […] đơn giản của toán học”. Hậu quả là “người ta không nhận thức những đặc tính của đối tượng nào đó mà bằng cách rút chúng một cách suy diễn từ khái niệm về đối tượng đó. Trước hết, người ta xuất phát từ đối tượng để tạo ra khái niệm về đối tượng; sau đó người ta  đảo ngược tất cả lại và biến hình ảnh của đối tượng, khái niệm về nó thành thước đo cho bản thân đối tượng. Bây giờ thì không phải là khái niệm phải phù hợp với đối tượng, mà đối tượng phải phù hợp với đối tượng” (41). Ở đây, F. Engels đã chỉ ra con đường dẫn các nhà chiết trung chủ nghĩa tới tình trạng ngụy khoa học ra sao. Một khi khái niệm khoa học không còn phù hợp với bản chất đối tượng mà nó thể hiện, mà ngược lại, thì không còn là thứ lý luận chân chính đáng tin cậy nữa rồi.

Có thể thấy, tính học đường của lý luận gắn chặt với tính học viện như thế nào. Hơn thế, tính học đường còn đi liền với tính tập thể trong biên soạn và tính cộng đồng trong tiếp nhận. Cả hai đều tạo ra sự nhất quán cao độ. Hệ quả là không còn đất cho sáng tạo riêng của mỗi cá thể. Trong cuốn sách Lý thuyết về sự biếm phỏng, L. Hutcheon đã trích dẫn ý kiến của T. Reiss (1988): Trong mọi thời đại và nơi chốn, luôn tồn tại một lý thuyết diễn ngôn thống trội. Cái lý thuyết ấy sẽ cung cấp các công cụ ý niệm cho một số lượng lớn các thực hành của con người” (42). Vậy nên, về phương diện biên soạn, có lẽ đã tới lúc cần giải tập thể, tạo cho mỗi nhà lý luận có cơ hội viết những công trình riêng, thống nhất về tư tưởng, và hoàn toàn chịu trách nhiệm mọi mặt về sản phẩm của mình. Còn trên phương diện tiếp nhận, cũng nên dần phá bỏ sức mạnh đám đông vốn nương tựa vào luật lệ đám đông cản trở tới sự nảy sinh những khuynh hướng sáng tạo thẩm mỹ mới mẻ. Tôi muốn nhấn mạnh tới hậu quả trầm trọng của phương diện tiếp nhận. Nó dễ mang tính thần học, tin mà không nhất thiết phải chứng minh. Thầy nói, trò lặp lại. Trò này nói, trò khác lặp lại. Thế hệ trò hôm nay nói, thế hệ trò ngày mai lặp lại… Cứ thế, người ta biến mọi nguyên lý văn chương thành mọi tín điều văn chương, đúng ở mọi nơi mọi lúc, không cần băn khoăn tìm lý lẽ biện giải. Chế ngự trí óc lúc này không còn là chân lý mà tín lý. Mọi hoài nghi khoa học đều chấm dứt. Đơn giản vì không cần thiết nữa (43).

Trở lên trên, tôi đã tập trung phân tích thực trạng và hậu quả của hệ thống lý luận văn chương học đường, dưới ánh sáng tư tưởng của K. Marx và F. Engels. Xin nói ngay, tôi không hề có ý đứng tách ra ngoài lề, mà luôn coi đó là những khiếm khuyết của chính mình. Lại nhớ lời nhà Khai sáng D. Diderot: một người không thể “lên án trật tự hiện hữu, mà không nhận thấy là mình khước từ chính bản thân mình” (44).

5. Xây dựng hệ thống lý luận văn chương mới - nhu cầu khẩn thiết hiện nay

Rõ ràng, lý luận văn chương dân tộc giữa lúc này đang có nhu cầu xây dựng một hệ thống từ mình, vì mình, do mình  cho mình. Nói cách khác là cần làm, phải làm, kiên quyết làm. Không thể chậm trễ hơn được nữa. Tôi tán thành với suy nghĩ đầy trách nhiệm của nhà lý luận Huỳnh Như Phương: “Nói gì thì nói, trong vài ba thập niên nữa, nếu không khắc phục tình trạng chậm trễ của lý luận – phê bình văn học thời kỳ này, các thế hệ sau sẽ trách cứ chúng ta và lúc đó chúng ta không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh nữa” (45). Ông nói khi bàn về bộ môn lý luận ở đại học, tôi muốn suy rộng ra cả hệ thống lý luận. Ông mong khắc phục tình trạng lạc hậu về lý luận nói chung, tôi chỉ muốn khuôn vào hành động và...hành động. Bởi lẽ, ta bàn nhiều rồi, lâu rồi. Và cũng có thể nói là thấu rồi. Bây giờ là lúc cần sắn tay vào làm. Mọi người cùng làm, không nên trông chờ dựa dẫm. Tôi nói vậy, vì, như giáo sư Phương Lựu có lần tỏ ý băn khoăn: “Có ý kiến cho rằng, đội ngũ lý luận phê bình hiện nay chỉ có phiên hiệu, chứ hầu như không có quân. Ý kiến này càng đúng, nếu xét riêng bộ phận lý luận”. Trăn trở đến nỗi nhiệt huyết của ông tràn ra cả tiêu đề. Bài viết của ông có tên: Nói cho cùng, phải có người chuyên tâm làm lý luận (46). Nỗi băn khoăn của một trong những nhà lý luận đầu ngành là hoàn toàn có cơ sở. Trông trước ngoái sau, xem ra người làm ít quá. Đại để, thế hệ cao niên thì nghĩ là đã hoàn thành chức trách, có thể yên lòng rửa tay gác kiếm được rồi. Thế hệ trung niên lại tự biện hộ, những người giàu kinh nghiệm, trình độ và bản lĩnh còn không làm thì ta làm sao nổi. Thế hệ trẻ thì cả quyết, xây dựng hệ thống lý luận văn chương, cần đấy nhưng đâu có dễ; người đi trước còn e ngại, dè dặt huống nữa là mình. Không, tôi không hề có ý phóng đại. Tôi chỉ muốn nói to lên một sự thật như một người trong cuộc.

Tuy, nói gì thì nói, thách thức trước lý luận hiện giờ thật to lớn và phức tạp. Muốn vượt qua, tôi tán đồng với các nhà lý luận Trần Đình Sử, La Khắc hòa…là hãy bằng mọi cách, bằng mọi nỗ lực để gia tăng tính khoa học của lý luận. Xem ra các ông cùng chung hướng suy nghĩ với nhiều nhà nghiên cứu khác trên thế giới. Giáo sư J. Gottschall khi cho rằng, ngành nghiên cứu văn chương, phê bình văn chương đang chết chậm, đồng thời tỏ ý tin tưởng, để cứu vãn chỉ còn cách là đưa công việc nghiên cứu văn chương tiến gần hơn tới khoa học (47). Bởi lẽ, tính khoa học cần được xem là một đặc tính không chỉ cơ bản mà còn mang tầm hệ thống của lý luận, hài hòa với ba đặc tính cơ bản khác của nó là: tính hiện đại, tính dân tộc và tính nhân văn (48). Để nâng cao và hoàn thiện tính khoa học, sớm vượt qua cuộc khủng hoảng hiện nay, tôi nghĩ, ta nên tập trung giải quyết hai vấn đề chính yếu: tạo dựng hình thái cấu trúc  hệ thống khái niệm, cố nhiên là theo yêu cầu và trên tinh thần mới.

Nhưng thế nào là mới? Tôi hiểu, mới hẳn nhiên là khác  cao hơn cái cũ, đúng bản chất hơn cái cũ. Nhưng không thể có cái mới nào lại tách rời cái cũ, không đơm hoa kết trái từ cái cũ. Điều này hoàn toàn đúng với quan niệm biện chứng marxism. F. Engels viết: “…[m]ỗi một bước tiến tới […] đều được thực hiện thông qua sự đấu tranh thường xuyên giữa tính di truyền và tính thích ứng như thế nào. Ở đây, người ta thấy rằng những phạm trù như là “khẳng định” và “phủ định” ít thích dụng với những hình thức tiến hóa ấy biết chừng nào”. “Ít thích dụng”, bởi “tính di truyền”  “tính thích ứng” là hai cặp phạm trù mâu thuẫn trong sự thống nhất biện chứng của mọi “hình thức tiến hóa” đích thực, vốn tự trong bản chất, vừa có khuynh hướng có yếu tố “khẳng định”, lại vừa có khuynh hướng có yếu tố “phủ định”; trong“khẳng định”  “phủ định”  trong “phủ định”  “khẳng định”, không thể và không được tách rời. F. Engels viết tiếp: “Người ta có thể coi tính di truyền là mặt khẳng định, bảo thủ và tính thích ứng là mặt phủ định, thường xuyên thủ tiêu những thành quả của tính di truyền; nhưng người ta cũng có thể coi tính thích ứng như là sự hoạt động sáng tạo, tích cực khẳng định, và tính di truyền như là hoạt động kháng cự, tiêu cực, phủ định. Nhưng, cũng như trong lịch sử, sự tiến bộ xuất hiện với tư cách là sự phủ định những trật tự đang tồn tại, ở đây cũng thế - vì những lý do hoàn toàn thực tiễn – tốt nhất ta nên coi tính thích ứng là hoạt động phủ định – PQT lưu ý”. F. Engels dùng từ “phủ định” chứ không phải từ “phủ nhận” để bàn về sự tiến hóa hợp quy luật xưa nay. Và, ông đi tới khái quát: “Trong lịch sử, sự vận động thông qua các mặt đối lập hiện ra hoàn toàn rõ rệt trong mọi thời kỳ nguy biến của các dân tộc tiên tiến” (49). Điều đó cũng được nhiều đầu óc thông thái thuộc mọi dân tộc và mọi thời đại thừa nhận. Mới đây, viện sĩ D. Likhachyov đưa ra một suy nghĩ thể hiện sự chiêm nghiệm cuộc đời thật sâu sắc: “…[t]rong  ba chiều của thời gian quan trọng nhất là hiện tại, hấp dẫn nhất là tương lai, phong phú nhất là quá khứ. […] Mà hiện tại […] không phải đứng yên: đó là một điểm động, do chính chúng ta định hướng từ quá khứ mà chúng ta cần phải biết, tới tương lai mà chúng ta cần phải tiên đoán” (50). Tôi muốn được bàn thêm, sự tiên đoán về tương lai luôn gắn liền với sự định hướng từ quá khứ, để cho“quá khứ, tương lai soi mình trong hiện tại”, khi ấy “mỗi ngày ta sống một ngày xuân” (thơ Tố Hữu).

6. Đi tìm một hình thái cấu trúc lý thuyết mới

Theo cách hiểu đó, tôi xin bàn thêm về hình thái cấu trúc lý thuyết. Giáo sư Phương Lựu từng thể hiện nỗi mong mỏi trong lời kết một bài viết giàu tâm huyết của mình: “Cái gì đã làm được cũng mới chỉ là bước đầu, còn cách xa mục tiêu phải phấn đấu. Cho nên […] càng cần hơn là một hệ thống những công trình chuyên khảo, cả giáo trình nữa, trực tiếp nghiên cứu giải quyết những vấn đề của chính bản thân lý luận văn học” (51). Đúng là hiện rất cần những công trình nghiên cứu, những bộ giáo trình “giải quyết những vấn đề của chính lý luận” văn chương. Tuy nhiên, không thể mong vì không thể có một hệ thống lý luận hoàn thiện nhất. Chỉ có thể là những cách tiếp cận riêng, độc đáo của mỗi nhà lý luận. Vì vậy, tôi chỉ dám ao ước tạo dựng được một hệ thống lý luận khoa học, thích hợp hơn cả, với văn chương và với Việt Nam. Trước hết cần giải quyết cấu trúc chung của hệ thống. Bởi, đổi mới thực chất là nâng cao tầm nhìn, mở rộng cách nhìn, điều chỉnh lối nhìn về văn chương, biểu hiện rõ nhất là ở việc tái cấu trúc thế giới văn chương, từ đó, đưa đến việc hình thành những nguyên lý mới có khả năng mở ra những chân trời mới, những hướng chuyển biến mới cho mọi hoạt động sáng tạo. Tôi muốn nhấn mạnh tới tâm huyết của đội ngũ các nhà lý luận chúng ta. NSND Nguyễn Văn Thông kể: một lần ông được xem một đoạn phim Bảng đen của Iran trên màn ảnh nhỏ, được xem cô gái 20 tuổi lên nhận giải tại Liên hoan phim Cannes. “Trong bộ trang phục dạ hội màu đen – ông nhớ lại, trông cô vừa giản dị vừa cao sang. Nhìn cô tôi cảm mến thán phục”. Rồi rất tự nhiên, ông nghĩ tới phim Việt Nam với niềm cảm khái cũng rất đáng “thán phục” “Kinh nghiệm cuộc sống cho ta thấy đôi khi nỗi nhục động viên ta mạnh hơn các giải thưởng” (52). Ông nói tới nỗi nhục dân tộc, tôi chỉ muốn nói tới mức độ thấp hơn là lòng tự ái dân tộc. Chẳng thể làm gì triệt để tới cùng nếu thiếu lòng tự ái. Nó gắn liền với lòng tự trọng. Tôi luôn tin như thế.

Chắc các nhà lý luận ở ta cũng nghĩ vậy nên trong nhiều năm đã tập trung không ít công sức, thời giờ và trí lực, mong sớm tạo nên hình hài cho hệ thống lý luận tương lai. Các nhà nghiên cứu lớp trước, như giáo sư Trần Thanh Đạm, trong một thời gian dài trăn trở đi tìm một học thuyết mới về văn học nghệ thuật trong xu hướng kết hợp nhuần nhị giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện đại. Ông cả quyết: “Tôi đề nghị (học thuyết mới) đó là chủ nghĩa hiện thực hiện đại (53). Hơn chục năm nay, giáo sư Nguyễn Văn Hạnh đào sâu ý tưởng mà gần đây được ông nâng lên thành mệnh đề tam vị nhất thể: “Văn chương không chỉ là tư tưởng, nghệ thuật hay ngôn ngữ, mà là một hợp chất tư tưởng - nghệ thuật - ngôn ngữ” (54). Nhiều nhà nghiên cứu lớp giữa, như Huỳnh Như Phương thì hình dung: “Giáo trình lý luận văn học nên tập trung vào bốn chủ điểm là văn học và xã hội, văn học và văn hóa, văn học và cái đẹp, văn học và ngôn ngữ. Đó cũng là các mối liên hệ thân thiết của văn học từ rộng đến hẹp, và giải quyết các mối quan hệ này, sẽ đồng thời giải quyết vấn đề bản chất và đặc trưng văn học(55). Còn có thể bặt gặp những dự kiến đầy trách nhiệm ở các nhà lý luận khác nữa. 

Thường thì ta mở rộng hệ tham chiếu tới nhiều nền lý luận phát triển khác nhau, không dĩ Tây, cũng không dĩ Đông vi trung. Nhưng xem ra, khi nghĩ về loại hình cấu trúc, ta xem trọng các nước sớm đi vào hiện đại hóa và thực hiện quá trình hiện đại hóa thành công ở phương Tây hơn. Trong việc hình dung bức tranh bao quát của lý luận, phê bình phương Tây thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Trung Quốc Trương Hậu Thành cho rằng, ở đây đã “trải qua ba lần chuyển hướng (chuyển hướng phi lý tính, chuyển hướng ngôn ngữ luận và chuyển hướng văn hóa luận) và ba giai đoạn là hiện đại, hậu hiện đại và sau hậu hiện đại, đã đi theo con đường từ nghiên cứu ngoại bộ sang nghiên cứu nội bộ và rồi trở về nghiên cứu ngoại bộ (đương nhiên không trở về một cách đơn giản mà tiến theo hình xoáy trôn ốc)” (56). Nhà nghiên cứu Phương Lựu lại viết: “Trước hết là Tâm lý học văn học manh nha từ cuối thế kỷ 19 […] Hai là Ngôn ngữ học văn học manh nha từ Nhóm ngôn ngữ học Moscou và Hội nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca Pétespurg đều ra đời từ 1915, mà sau này người ta quen gọi là chủ nghĩa hình thức Nga […] Ba là một khuynh hướng quan trọng khác, lâu đời hơn, đó là xã hội học văn học” (57). Nếu dựa  vào quy trình sống động của văn chương đời sống – nhà văn – tác phẩm – người đọc – đời sống mà xem xét thì diễn biến của lý luận phương Tây trong chừng một thế kỷ qua, theo tôi, đi theo bốn thiên hướng chính:

- Chú trọng tới đời sống, có thể gọi là xu hướng hiện thực.

- Chú trọng tới nhà văn, có thể xem là xu hướng sáng tạo.

- Chú trọng tới tác phẩm, có thể cho là xu hướng bản thể.

- Chú trọng tới người đọc, có thể coi là xu hướng tiếp nhận.

Mỗi xu hướng có những mặt mạnh tạo nên những đóng góp riêng. Cần kết hợp những mặt mạnh của từng xu hướng vào một hệ thống nhất quán chung để bồi đắp quan niệm của mình. Có lẽ cần nhắc tới một điều là một vài nhà lý luận, phê bình ở ta có thói quen tôn thờ, khuyếch trương những trường phái bản thân có điều kiện đào sâu, thấm nhuần. Nên có ý thức phân biệt việc lập thuyết với việc vận dụng. Ở hướng sau, cũng cần thấy sự khác biệt giữa vận dụng đưa lý luận vào phê bình với vận dụng lý luận cho lý luận. Trong lập thuyết rất cần đẩy ý tưởng đến tận cùng. Còn trong khi ứng dụng có lẽ khác. Có thể vận dụng vào phê bình thì còn chấp nhận xu hướng tuyệt đối hóa ở một mức độ và giới hạn nhất định. Riêng ứng dụng để xây dựng lý luận thì lại nên tạo ra sự hài hòa theo hướng trung dung. Cái gì hay, phù hợp ta chọn, không thế thì ta loại. Rồi uyển chuyển tổ hợp các hạt nhân hợp lý nhờ học hỏi vào một hệ thống chung thích hợp với dân tộc và thời đại mình. F. Engels viết: “Cuối cùng, trong cơ thể sống, chúng ta thấy sự vận động liên tục của những hạt nhỏ nhất của cơ thể ấy, […] một vận động mà kết quả là sự cân bằng thường xuyên của toàn bộ cơ thể trong một thời kỳ sinh sống bình thường, một vận động không lúc nào ngừng: đấy là một sự thống nhất sinh động của vận động và cân bằng (58). Có thay đổi đồng thời có ổn định, cũng như có “vận động” và có “cân bằng”. Muôn vật, mọi trạng thái đều thế cả. Chớ nên e ngại là sẽ không có gì mới mẻ. Mỗi yếu tố từ hệ thống khác khi được tiếp thu chuyển sang hệ thống mới đều ít nhiều chuyển đổi và đưa đến sự khác biệt nhất định về nghĩa. Nên nhớ tới lời F. Saussure: “Nhưng cái chính là một từ mượn không còn có thể coi là một từ mượn nữa, khi nó được nghiên cứu trong lòng hệ thống” (59). Bởi vậy, nền lý luận văn chương cần lấy tác phẩm làm yếu tố trung tâm, lấy đời sống làm nền tảng, xem trọng chủ thể sáng tạo, và không quên chủ thể và quá trình tiếp nhận. Đặc biệt, ta không thể bỏ qua tính chỉ đạo thường là gián tiếp  “suy cho tới cùng” của tâm thức xã hội (gồm ý thức xã hội và vô thức xã hội) tới mọi yếu tố chính yếu của đời sống văn chương.

Sau đây, tôi thử đưa ra một sơ đồ, mặc dầu trong khoa học xã hội – nhân văn như văn học rất cần tránh mọi loại sơ đồ. Đối tượng của văn học vốn là văn chương, một thực thể sống, lại là thực thế sống tinh thần. Sao có thể lấy những bộ khung sơ cứng áp đặt lên mà không rơi vào máy móc, thô thiển. Vậy hãy xem sơ đồ sau như một công cụ trợ giúp cho việc giải thích quan niệm trở nên rành rẽ hơn mà thôi.

Tâm thức xã hội

(ý thức xã hội và vô thức xã hội)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Nhà văn                  Tác  phẩm                 Độc giả

 

 

Đời sống
(trọng tâm là đời sống văn hóa)

 

Chú trọng tới yếu tố tâm thức, nhất là nhân tố ý thức, tư tưởng xã hội không xa lạ với quan niệm của các bậc tiền bối như Phan Kế Bính. Để trả lời câu hỏi “cái hay của văn chương ở đâu?” trong Việt Hán văn khảo (1918), cụ cho rằng, trước hết là ở “tư tưởng cao”, sau đó mới “ở kiến văn rộng”, “ở nhời bàn thấu lý”, “ở câu nói đạt tình”. Điều này cũng không xa lạ với tư tưởng của các nhà mỹ học, các nhà văn thuộc mọi khuynh hướng khác nhau. G. Poxpelov, nhà lý luận nổi tiếng thời Xô viết trước đây quả quyết: “Trong những định nghĩa nghệ thuật có sức thuyết phục cao thì sự nhận thức một cách tư tưởng – cảm tính những đặc điểm của đời sống xã hội là đặc tính quan trọng nhất của nghệ thuật” (60). Nhà văn đương đại danh tiếng người Mỹ R. Carver, trong bài viết Nguyên lý của truyện ngắn, tỏ lòng ngưỡng mộ Tsekhov ở “sự trong sáng của câu văn và những ý nghĩa còn ẩn giấu đằng sau”. Ông trước sau quan niệm dứt khoát: “Một bài thơ hoặc một truyện ngắn hoàn toàn có thể viết về những điều bình thường bằng một thứ ngôn ngữ thông dụng nhưng chính xác. Bằng cách đó, nhà văn có thể cung cấp cho những sự vật rất đỗi thân quen […] những ý nghĩa phong phú và đáng ngạc nhiên” (61).

Trong sơ đồ trên, tôi chú trọng tới sự hài hòa khi xây dựng lý thuyết theo yêu cầu của nhà toán học Pháp H. Poincarré: “Tôi nói đến cái đẹp thầm kín nảy sinh từ sự hài hòa giữa các bộ phận mà một trí tuệ thuần khiết có thể cảm nhận được” (62).  Sự hài hòa khoa học biểu hiện ở sự tác động qua lại của cả năm yếu tố trong hệ thống, thấm nhuần tinh thần ngũ linh tương giao.Vì, sự vận động của văn chương là sự vận động hữu cơ của một sinh thể đích thực. F. Engels có lần bàn đến hình thái vận động cơ giới, thô thiển và cứng nhắc, đã lưu ý: “Vận động, đem ứng dụng vào vật chất, thì có nghĩa là sự biến hóa nói chung – PQT nhấn mạnh”. Từ đó, F. Engels không quên nhắc nhở phải hết sức tránh “làm lu mờ tính đặc thù của các hình thức vận động khác” (63). “Tính đặc thù” nổi bật của văn chương cũng như của nghệ thuật nói chung nằm ở dạng thức tinh thần linh diệu vào bậc nhất của con người và xã hội con người. Do vậy, ta nên xem văn học là một ngành khoa học nhân văn thuần túy . Vì đối tượng của văn học là văn chương. Mà văn chương, thì như bất cứ hình thái nghệ thuật nào khác, “khi tính người đã mất thì nghệ thuật cũng không còn nữa” (B. Brecht – 64).

Tôi coi tác phẩm là yếu tố trung tâm của đời sống văn chương, tựa như có một thời, theo nhận xét của F. Engels, “toàn bộ vật lý học, hóa học và sinh vật học chính thức của chúng ta đều lấy địa cầu làm trung tâm, chỉ trù tính cho trái đất” (65). Cần chỉ rõ tính tương đối của cách thức tiếp cận này. Bởi vì, như chính F. Engels đã nói: “Quan điểm lấy địa cầu làm trung tâm trong thiên văn học là một quan điểm thiển cận, và bị bác bỏ một cách chính đáng, nhưng chúng ta càng nghiên cứu sâu thì quan điểm ấy càng tỏ ra là có lý của nó. […] Những khoa học ấy chỉ có giá trị đối với trái đất, và do đó mà những khoa học ấy chỉ là tương đối. Nếu chúng ta đòi hỏi nghiêm khắc rằng khoa học không được có trung tâm thì chúng ta sẽ làm mọi khoa học ngừng phát triển – Những từ in nghiêng có trong nguyên bản - PQT” (66). Như vậy, theo tôi, kết cấu hệ thống lý luận vẫn nên theo trục: nhà văn – tác phẩm – người đọc, nhưng mỗi yếu tố chính yếu này đều được đặt trong quan hệ gắn bó, nhiều chiều giữa chúng với nhau và giữa chúng với hai nhân tố nền tảng  là đời sống xã hội và tâm thức xã hội.

7. Tạo dựng một hệ thống khái niệm lý luận thích hợp

Giờ xin bàn tới việc xây dựng hệ thống khái niệm, phạm trù lý luận văn chương. Như mọi người đều biết, con người và xã hội sinh ra các ngành khoa học để tạo ra kho tàng tri thức bách khoa và toàn diện. Khoa học càng phát triển thì tri thức càng giàu có và phức tạp. Để có thể hệ thống hóa tri thức, từ đó,  thuận tiện cho việc lưu giữ và truyền bá tri thức, các ngành khoa học chuyên biệt đã chủ động tạo lập nên hệ thống các phạm trù, khái niệm khoa học riêng biệt được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ đặc thù. Tính khoa học khi nào cũng được nhận thấy qua hệ thống thuật ngữ khoa học này. Đúng như  F. Engels đã khẳng định: “Nhưng không có khái niệm giống thì toàn bộ khoa học đó sẽ biến thành con số không. Tất cả mọi ngành khoa học đều cần có khái niệm giống làm cơ sở: không có khái niệm đó thì […] tất cả những thành tựu của những ngành khoa học ấy không những cần phải xem xét lại, mà còn bị xóa bỏ tuốt cả”. Tuy nhiên, mọi khái niệm, phạm trù khoa học không thể và không phải là kết quả tư duy tư biện của nhà nghiên cứu – chúng được khái quát hóa từ muôn vàn hiện tượng xảy ra trong đời sống với những hình thái biểu hiện giàu có, hết sức khác nhau. Từ sinh vật học, F. Engels suy xét: “Trong tác phẩm nổi tiếng của mình (Bàn về nguồn gốc các loài qua con đường đào thải tự nhiên – năm 1859), Đácuyn xuất phát từ một cơ sở sự kiện rộng rãi nhất, dựa trên sự ngẫu nhiên”. Nhưng mọi hiện tượng, mọi “sự ngẫu nhiên” lại không đứng yên mà luôn biến đổi. Do vậy, thuật ngữ khoa học muốn thật sự khoa học cũng cần phải luôn tự điều chỉnh, thậm chí nếu cần thì buộc phải thay đổi. F. Engels viết tiếp: “Chính những sự khác biệt ngẫu nhiên, vô tận giữa các cá thể trong nội bộ mỗi giống, những sự khác biệt có thể tăng đến mức vượt ra ngoài đặc điểm của một giống, những sự khác biệt mà ngay cả những nguyên nhân gần nhất của chúng cũng chỉ có thể chứng minh được trong những trường hợp rất hiếm, - chính những sự khác biệt ấy đã buộc ông (Đácuyn) phải đặt vấn đề xem lại cái cơ sở trước đây của mọi quy luật trong sinh vật học: khái niệm giống, với tính cứng nhắc và bất biến siêu hình trước đây của nó”.  Nói một cách khác, “ngẫu nhiên lật nhào cái quan niệm về tất nhiên vẫn tồn tại trước đó”. Đoạn này được F. Engels cẩn thận ghi chú thêm ngoài lề: “Những tài liệu về các trường hợp ngẫu nhiên tích lũy được trong thời gian đó đã bị đè bẹp và đập tan quan niệm cũ về tất yếu”. Hiển nhiên, khi đó thì, theo F. Engels: “Quan niệm trước kia về tất nhiên không dùng được nữa. Duy trì nó có nghĩa là đem sự quyết đoán độc đoán của con người, - sự quyết đoán tự mâu thuẫn với bản thân nó và với hiện thực, - mà gán cho tự nhiên làm quy luật, như vậy là phủ nhận mọi tính tất nhiên nội tại trong giới sinh vật, là tuyên bố chung rằng sự thống trị hỗn loạn của ngẫu nhiên là quy luật duy nhất của giới sinh vật” (67).

Từ quan niệm đó của F. Engels, ta thấy rất nhiều khái niệm, kể cả những khái niệm then chốt trong lý luận văn chương, thật sự đứng trước những thách thức gay gắt. Tôi chỉ giới hạn trong một hình thái văn chương mới là văn chương mạng. Khái niệm dần trở nên quen thuộc và phổ biến này hiện chưa thật ổn định về nghĩa. Có lẽ, nên phân biệt văn chương lên mạng (xem internet chỉ là phương tiện tồn tại, như chữ viết)  văn chương của mạng (xem internet là điều kiện sản sinh một hình thái văn chương mới, trong đó có dạng thức đặc thù nhất là văn chương hypertext mà nhiều người quen giải thích hypertext  văn bản điện tử). Sự tồn tại các tác phẩm văn chương mạng cũng rất khác nhau. Có khi nằm trên các trang thông tin điện tử cá nhân thường được gọi là blog. Cũng có khi được đưa lên những trang web mang tính báo chí. Đấy là chưa nói có những mạng vừa mang tính cá nhân vừa mang tính công luận. Phạm vi ảnh hưởng của các trang web cũng không giống nhau. Có trang lượng truy cập hàng ngày lên tới hàng vạn, hàng triệu. Lại có trang chỉ lèo tèo vài trăm, vài nghìn, nhiều khi trong một thời gian dài bị “đóng băng”, chỉ tồn tại trên hình thức. Cũng nên chỉ ra cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của văn chương mạng. Về mặt tích cực, rất dễ nhận ra, đại để là: tính nhanh nhậy, độ lan truyền, mặt sống động, tính tiết kiệm, sự đa dạng… Mặt tiêu cực cũng không khó nhận ra, đại loại như: thông tin “bẩn” lan tràn, ẩn danh, thiếu trách nhiệm xã hội và nghề nghiệp, hoàn toàn phụ thuộc vào máy tính, dễ thành “ảo” (do kỹ thuật và tin tặc)… Có điều, nói gì thì nói, chắc chắn văn chương mạng sẽ thống trị trong tương lai, mà là tương lai gần, rất gần.

Vậy phải xử lý ra sao trước dữ liệu bắt đầu trở nên phổ thông là văn chương mạng, nhất là văn chương của mạng? Chắc chắn sẽ có nhiều khái niệm, thậm chí phạm trù lý luận văn chương không còn mấy thích ứng nữa. Chẳng hạn phạm trù then chốt, trung tâm: tác phẩm. Khi văn bản mang đậm tính liên văn bản , thì tác phẩm văn chương lập tức mất đi tính đặc sắc và ổn định vốn có. Liệu phạm trù này còn giữa nguyên nghĩa cũ? Rồi phạm trù trung tâm và then chốt khác là tác giả cũng buộc phải thay đổi hàm nghĩa. Điều mà R. Barthes dự báo từ mấy chục năm trước, giờ thật sự hiện hữu: “cái chết của tác giả”. Ngay nguyên lý quen thuộc và cơ bản “Văn chương là nghệ thuật ngôn từ” cũng bị đặt trong vòng nghi vấn trước văn chương hypertext, nơi không chỉ có phương tiện ngôn ngữ, mà cả âm thanh, hình ảnh, và nhiều ký hiệu khác cùng tồn tại và cùng kết hợp sống động, phi tuyến tính.

Trước thực tế ấy, nhiều nhà lý luận đã tỏ ra khá hoang mang. Bởi, như F. Engels còn viết: “Tất cả chúng ta đều đồng ý với nhau rằng trong bất cứ lĩnh vực khoa học nào, trong lĩnh vực tự nhiên cũng như trong lĩnh vực lịch sử phải xuất phát từ những sự kiện đã có. […] Cho nên trong khoa học […] chúng ta không thể cấu tạo ra những mối liên hệ để ghép chúng vào sự kiện, mà phải từ các sự kiện đó phát hiện ra mối liên hệ ấy và một khi đã phát hiện ra các mối liên hệ ấy rồi thì phải hết sức chứng minh những mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm” (68). “Sự kiện” văn chương rõ ràng đã thay đổi, văn học trong đó có lý luận văn chương, không thể không thay đổi. Muốn thế, cần tạo ra “những mối liên hệ mới” tương thích với “những sự kiện” mới xuất hiện. Đấy chính là yêu cầu của tính “thực nghiệm” mà bất cứ ngành khoa học nào muốn thật sự trở thành một ngành khoa học đích thực đều phải đảm bảo.

Ở đây, để tránh mọi phiền toái, rắc rối, nhiều người có thiên hướng chuyển văn chương mạng vào phạm trù cái ngẫu nhiên nhằm xây dựng một hệ thống khái niệm chỉ phản ánh được những mặt bản chất nhất thuộc những hiện tượng tương đồng mang tính tiêu biểu, điển hình. Từ đó, họ có thể yên tâm gạt văn chương mạng sang một bên. Việc làm này cũng vi phạm nguyên tắc căn bản của phép biện chứng, như F. Engels từng lên tiếng nhắc nhở: “Người ta tuyên bố rằng chỉ có cái tất nhiên mới là cái duy nhất khiến cho khoa học quan tâm, còn cái ngẫu nhiên thì không đáng được khoa học quan tâm. Điều đó có nghĩa là: cái mà người ta có thể quy vào những quy luật, tức là cái mà người ta biết, thì mới là cái đáng chú ý, còn cái mà người ta không  quy vào những quy luật, tức là cái mà người ta không biết, thì là cái không đáng chú ý và có thể gác ra một bên. Nếu thế thì không còn gì là khoa học nữa, vì khoa học phải nghiên cứu chính cái mà chúng ta không biết”. Từ đó, F. Engels rút ra kết luận: “Thật dễ thấy rằng đó là cái thứ khoa học giống như cái khoa học coi cái mà nó có thể giải thích được là tự nhiên, và coi cái mà không giải thích được là do những nguyên nhân siêu tự nhiên sinh ra […]” (69). Có thể cảm nhận được nụ cười hài hước đích đáng của F. Engels trước những thứ lý luận chỉ ưa tìm con đường thẳng tắp vốn không tồn tại trong thực tế, cố tình né tránh sự phức tạp của đối tượng nghiên cứu.

Trong trường hợp này, nói cho đúng, các nhà nghiên cứu có quyền chọn lựa những sự kiện, những hiện tượng “ngẫu nhiên” mang tính bản chất để khái quát thành những nguyên lý chung. Không như vậy sẽ không thể tiến hành thao tác khoa học được. Các nhà lý luận văn chương từ trước đến nay thực chất cũng từng nương theo cách làm ấy. Chẳng hạn, khái niệm tác giả. Rất nhiều quan niệm đã được đưa ra. Nhưng có hai đặc tính chung mà hầu như quan niệm nào cũng nhắc tới là tính nhất quán (sự nghiệp văn chương dẫu đa dạng như thế nào cũng chỉ của một người với lai lịch riêng), và tính độc sáng (có cá tính sáng tạo riêng, không lẫn với bất cứ ai). Tuy cả hai đặc tính ấy đều bị vi phạm ít nhiều bởi một số hiện tượng. Lại là những hiện tượng nổi bật, nhiều người đều biết. Như F. Pessoa  B. Brecht. Dịch giả đồng thời là nhà nghiên cứu Diễm Châu có bài viết Fernando Pessoa và người thày của ông, giới thiệu khá tỷ mỷ về nhà văn đặc sắc này (70).  F. Pessoa là thi sĩ lớn nhất và đặc biệt nhất của Bồ Đào Nha. Sinh thời, dưới tên thực F. Pessoa, ông chỉ cho in một tập thơ nhỏ bằng tiếng Bồ và một vài tập thơ mỏng viết bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, ông sử dụng rất nhiều dị danh nhằm tạo ra nhiều sự nghiệp hoàn toàn khác nhau, nổi bật như Alberto Caeiro, Ricardo Reis, Álvaro de Campos, Bernardo Soares, C. Pacheco,... Theo F. Pessoa, “tác phẩm viết bằng biệt hiệu là tác phẩm của “chính con người” tác giả thiếu chữ ký tên thực của ông; tác phẩm dị danh là tác phẩm của tác giả “ở ngoài con người của ông”; ấy là tác phẩm của một nhân vật hay nhân cách hoàn toàn do ông tạo ra, cũng như những lời đối đáp của một nhân vật xuất phát từ một kịch bản sân khấu nào đó do tay ông viết ra”. Bởi vậy, những dị danh trên không phải là những biệt hiệu khác nhau của cùng một tác giả như ta thường thấy. Với từng danh hiệu, F. Pessoa đã “thực hiện” cả một tiểu sử, với quan niệm sống, nhất là bút pháp riêng, khác nhau và khác với chính ông, vì Fernando Pessoa còn viết dưới tên thực của mình! Có lẽ vì thế mà ông quyết định lấy tên là Pessoa - trong tiếng Bồ có nghĩa là “không ai cả” và theo từ nguyên còn có nghĩa là chiếc mặt nạ của các diễn viên sân khấu (La Mã). Ông đồng thời là tác giả của câu nói nổi tiếng: “Văn chương, như mọi hình thức nghệ thuật, là lời thú nhận rằng đời sống không đủ”. B. Brecht thì quan niệm về khái niệm tác phẩm rất đặc biệt. Với ông, tác phẩm có một ý nghĩa hoàn toàn phụ. Tác phẩm của ông cũng như của bất cứ ai đều không có giá trị tự thân mà chỉ có giá trị sử dụng -“giá trị tài liệu”, như ông nói. Tính tư hữu của tác phẩm bị bác bỏ. Ông bảo: “Vay mượn đôi chút ở người này hay người kia, chứng tỏ khiêm tốn: thật là không có tinh thần đồng đội nếu chỉ muốn riêng một mình mình tiến lên phía trước”. Là nhà cách tân kịch danh tiếng, ông dùng thuật ngữ stiicke (tiếng Đức nghĩa là mảnh, miếng, mảng, mẩu…) thay cho dramen để chỉ các vở kịch của mình (71). Sau này đã từng có hẳn một cuốn sách của J. Fuegi xuất bản năm 1995 phanh phui chuyện nhà viết kịch này ký tên mình dưới tác phẩm của kẻ khác. Ngày nay B. Brecht không còn gây nhiều ảnh hưởng như trước có lẽ là vì vậy (72).

Cần nhấn mạnh, những hiện tượng trên vẫn có thể xem là những trường hợp ngoại biệt, và về cơ bản không làm thay đổi nội hàm của khái niệm. Nhưng khi cố tình bỏ qua những hiện tượng đang có xu hướng trở thành phổ biến như văn chương mạng, các nhà lý luận tất sẽ rơi vào trạng thái tư duy phi biện chứng, thậm chí phản biện chứng, và thực chất đã để cho quyết định luận vừa thô thiển vừa đơn giản thống trị đầu óc. Nói như F. Engels, những người này “[k]iên trì bám lấy những tư tưởng không kém nghèo nàn của quyết định luận máy móc là thuyết, ngoài miệng thì phủ định mọi tính ngẫu nhiên, để trên thực tế, lại thừa nhận tính ngẫu nhiên trong mỗi trường hợp riêng biệt” (73). Hơn thế, quyết định luận còn “định thanh toán cái ngẫu nhiên bằng cách hoàn toàn phủ nhận cái ngẫu nhiên. Theo quan niệm đó thì trong tự nhiên, chỉ ngự trị có sự tất nhiên trực tiếp đơn giản thôi. […] Thừa nhận tính tất nhiên như vậy thì chúng ta không bao giờ thoát khỏi quan niệm thần học về giới tự nhiên được” (74).

Như vậy, việc tạo dựng một hệ thống lý luận văn chương như mong mỏi của chúng ta luôn là một công việc nặng nề và phức tạp. Với mỗi cá nhân và với cả đội ngũ. Bởi vì, như I. Kant còn nói: “Câu trả lời làm dấy lên những câu hỏi mới” (75). Tôi xin được phép kết thúc bài viết bằng câu nói thấu lý khác ấy của nhà triết học vĩ đại người Đức.

 

                                                                    Đà Lạt, 9/12/2008

 

 

 

 


(1)        Mạng Tạp chí Nhân văn (2001).

(2)        Trong Bộ sử thi Ấn Độ Mahabharata, Yudhishthira - anh cả của họ Pandava, trước thử thách của thần Dharma, buộc phải trả lời xác đáng hàng loạt câu hỏi. Tôi đặc biệt ưa thích hai câu trả lời. Hỏi: Con đường lên trời là gì?; Trả lời: Lòng thành thật. Hỏi: Thế nào là chân tri?; Trả lời: Chân tri không phải học mà biết, không phải nhờ lý luận mà biết. Chân tri chỉ đạt được nhờ ở đức tính ngay thẳng.

(3)        A.V. Mikhailov, Về khái niệm Văn học, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số11/2007, vienvanhoc.org. 

(4)        Tiền Trung Văn, Ba mươi năm lý luận văn học: thành tựu cục diện và vấn đề, ­Tạp chí Nghiên cứu Văn học số10/2007, tr.21.

(5)        Hội thảo về Lý luận, phê bình tại Tp. Hồ Chí Minh, Văn nghệ số 13/2004.

(6)        Tiền Trung Văn, Ba mươi năm lý luận văn học: thành tựu, cục diện và vấn đề, sđd, tr.25.

(7)        Mạng Tạp chí Nhân văn (2005).

(8)        Mạng Tạp chí Nhân văn (2002).

(9)        Nguyễn Hưng Quốc, Thế hệ tiền-lý thuyết , mạng Tạp chí Văn học, số 218.

(10)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), Nxb Chính trị Quốc gia, HN,  tr.709 -710.

(11)     Trương Đăng Dung, Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện đại, Văn học Nước ngoài, số 1/2005, tr.167.

(12)     M. Mitchell, Bảy luận đề về thời đại hoàng kim của phê bình văn học, tienve.org. 

(13)     Nguyễn Văn Dân, Nghiên cứu văn học – Lý luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục,  1999, HN, tr.15.

(14)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 1 (1995), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, tr.18.

(15)     Cao Huy Thuần(Chủ biên), Từ Đông sang Tây , Nxb Đà Nẵng, 2005, tr.397 - 398.

(16)     Diệp Khuông Chính, Phongdiep.net.

(17)     Tìm tòi hệ thống lý luận mới ở Trung quốc,Văn nghệ số 23/05.

(18)     L. Waters (Hoa Kỳ), Khủng hoảng lý luận văn học trong nhà trường Mỹ, Văn nghệ số 1+2/2008.

(19)     Đôi khi siêu tự sự (metanarrative) còn được gọi là đại tự sự (grand narrative), tự  sự chủ (master narrative), hay lý thuyết phổ quát (universal theory).

(20)     Nguyễn Hưng Quốc, Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần) chết trong văn học Việt Nam  [chuyên đề VĂN NGHỆ HẬU HIỆN ĐẠI], tienve.org.

(21)     Nguyễn Hưng Quốc,  Thế hệ tiền-lý thuyết, sđd.

(22)     Mạng Tạp chí Nhân văn (2005).

(23)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.489.

(24)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 1 (1995), sđd, tr.581.

(25)     Nguyễn Hưng Quốc, Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần) chết trong văn học Việt Nam  [chuyên đề  VĂN NGHỆ HẬU HIỆN ĐẠI], sđd.

(26)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.491.

(27)     Như trên, tr.733 -734.

(28)     Văn Chinh, Hai dòng thác Đông Tây đều muốn cuốn ông đi, nhưng Trương Tửu còn lại, vanvn.net.

(29)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 8 (1993), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, tr.148 – 149.

(30)     T. Eliot,Truyền thống và tài năng cá nhân,Văn học Nước ngoài, số 2/2003, tr.175.  

(31)     Nguyễn Hưng Quốc, trong Thế hệ tiền-lý thuyết nhận xét: “Trong lúc giới cầm bút và giới nghiên cứu ở Tây phương tự nhận là thuộc “thế hệ hậu lý thuyết”, chúng ta, những người cầm bút và nghiên cứu Việt Nam thuộc thế hệ nào? Câu trả lời trung thực nhất, theo tôi, là: thế hệ tiền-lý thuyết. Có thể nói, trong sinh hoạt văn học Việt Nam hiện nay, phần lạc hậu nhất, không còn hoài nghi gì nữa, chính là phần lý thuyết. Sáng tác, tuy chưa có những thành tựu thật lớn, nhưng ít nhất cũng có sự vận động; phê bình, tuy kém, cực kỳ kém, nhưng ít nhất cũng hiện hữu; còn lý thuyết thì dường như chỉ mới ở dạng phôi thai: hầu hết những công trình gọi là mang tính lý thuyết của Việt Nam hiện nay hoặc chỉ là các cuốn giáo trình, lại là giáo trình theo kiểu Việt Nam, rất mực đơn sơ và ngây thơ, hoặc chỉ là các công trình biên khảo, ở đó, tác giả dừng lại ở việc tóm tắt, thường một cách hời hợt, thậm chí sai lầm, một số kết quả nghiên cứu nhập môn ở nước ngoài” (sđd).

(32)     Vương Trí Nhàn, Bẩy bước tới tha hóa  Mỗi chúng ta đã tự đánh mất bản thân như thế nào?, Văn nghệ số 10/2004.

(33)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 1 (1995), sđd, HN, tr.159.

(34)     Nguyễn Hưng Quốc, Lý thuyết và phê bình, (mạng tienve.org).

(35)     Nguyễn Hưng Quốc, Thế hệ tiền-lý thuyết sđd.

(36)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 1 (1995), sđd, tr.582.

(37)     Như trên, tr.577.

(38)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.490.

(39)     Như trên, tr.34.

(40)     D. Diderot, Cháu ông Rameau, Nxb Tri thức, 2006, tr.73.

(41)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.139.

(42)     Linda Hutcheon (2000), Lý thuyết về sự biếm phỏng, Nhuhuy.com.

(43)     Hệ từ Dịch có câu: Thánh nhân hữu dĩ kiến thiên hạ chi chí động, nhi quan kỳ hội thông”. Nguyễn Đăng Thục hiểu: “Bậc thánh nhân có thấy được cái động biến không ngừng của thiên hạ mà nhìn nhận ở phương diện tổng quát hội thông nghĩa là cả phương diện động cả phương diện tĩnh vậy”.

(44)     Diderot, Cháu ông Rameau, sđd, tr.41.

(45)     Huỳnh Như Phương, Môn lý luận văn học trong trường đại học, Nghiên cứu Văn học 4/2006, tr.51.

(46)     Phương Lựu, Nói cho cùng, phải có người chuyên tâm làm lý luận,Văn nghệ số 11/2006.

(47)     Mạng Tạp chí Nhân văn (2008).

(48)     Theo J.Culler, lý thuyết có bốn thuộc tính căn bản: tính phê phán, tính liên ngành, tính phân tích và tính phản tỉnh (Nguyễn Hưng Quốc, Tinh thần phê phán, tienve.org). Tôi lại tán đồng ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu ở ta, lý thuyết văn chương nên có bốn đặc tính cơ bản: tính khoa học, tính hiện đại, tính dân tộc và tính nhân văn.

(49)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.695.

(50)     D. Likhachyov, Vẻ đẹp vĩnh cửu nằm trong sự khác biệt, vanvn.net.

(51)     Phương Lựu, Nói cho cùng, phải có người chuyên tâm làm lý luận, sđd.

(52)     Nguyễn Văn Thông, Suy nghĩ về phim thơ, Văn nghệ số 31/2003.

(53)     Hội thảo về Lý luận, phê bình tại Tp. Hồ Chí Minh, sđd.

(54)     Nguyễn Văn Hạnh, Văn hoá nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương, vietvan.vn.

(55)     Huỳnh Như Phương, Môn lý luận văn học trong trường đại học, sđd, tr.46.

(56)     Trần Hậu Thành – Tình hình du nhập lý luận phê bình văn học đương đại phương Tây vào Trung Quốc từ thời kỳ văn học mới, Văn học Nước ngoài số 5/1999, tr.164.

(57)     Phương Lựu, Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Nxb Văn học, HN, 2001, tr 577 -  578.

(58)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.740.

(59)     F. Saussure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Nxb Khoa học Xã hội, HN,1973, tr.50.

(60)     Poxpelov G., Lý luận văn chương, (Tiếng Nga), Trường cao đẳng, M. 1978, tr.75.

(61)     Carver  R., Nguyên lý truyện ngắn, evan.com.

(62)     Trịnh Xuân Thuận, Cái đẹp trong khoa học, Tia sáng số 18, 10/2003.

(63)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.742.

(64)     Nhiều tác giả, Nhà văn bàn về nghề văn, Hội VHNT Quảng Nam - Đà Nẵng, 1983, tr.107.  

(65)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.730.

(66)     Như trên, tr.731.

(67)     Như trên, tr.706 - 707.

(68)     Như trên, tr.493.

(69)     Như trên, tr.703 – 704.

(70)     Diễm Châu, Fernando Pessoa và người thày của ông, tienve.org.

(71)     M. Naumann, Song đề của “mỹ học tiếp nhận”, Tạp chí Văn học số 4/1978, tr.129 – 130.

(72)     Mạng Tạp chí Nhân văn (2005).

(73)     C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 20 (1994), sđd, tr.706.

(74)     Như trên, tr.704.

(75)     Phạm Việt Hưng, Nghịch lý tự quy chiếu và siêu ngôn ngữ, Văn nghệ số 25/2003.