Nỗi truân chuyên của người làm lý luận

            Số người chuyên tâm làm lý luận ở ta phải thừa nhận là quá ít ỏi. Kể ra nhiều người lúc khởi nghiệp vốn dĩ cũng thiết tha, thậm chí đam mê với lý luận, những mong góp phần nhỏ bé của mình vào việc hình thành một nền lý luận văn chương hiện đại, để dân tộc có thể đàng hoàng sánh vai với các nước tiên tiến khác trên thế giới về mọi phương diện. Có điều, do những nguyên do sâu xa khác nhau, ở trong và cả ở ngoài văn chương, nhiệt huyết ở họ ngày một vơi cạn dần. Cứ thế, đội ngũ lý luận thưa thớt dần theo năm tháng.

Chẳng hiểu tự khi nào, người nước ta lại đề cao óc thực tế đến vậy. Đẩy xa hơn, có người còn xem đây là ưu thế của người Việt, của người Á Đông nói chung. Theo tôi, nên xem óc thực tế là đặc điểm hơn là ưu thế. Đặc điểm này có cái hay đi cùng cái dở. Đáng nói nhất là cái dở. Người có đầu óc thực tế quá lắm cũng chỉ biết tập hợp những trải nghiệm thành kinh nghiệm, cao hơn là hệ thống kinh nghiệm, vậy thôi. Mà kinh nghiệm thì quý đấy nhưng cũng rất dễ máy móc, giáo điều. Kinh nghiệm chủ nghĩa, luôn đề cao kiểu mẫu, không tính đến hoàn cảnh luôn đổi thay, thường bị chê trách, chế nhạo là vì thế. Cái hại của căn bệnh tinh thần này lớn đến kinh người. Nó dễ thủ tiêu óc sáng tạo, và triệt luôn cả ý hướng độc lập. Có thể trong trong trường hợp nào đó thành công, nhưng nhìn lâu dài, thất bại là khó tránh khỏi, chỉ còn là chuyện thời gian.

Xem nhẹ lý thuyết còn có gốc gác từ việc không thấu triệt nguyên lý thực tiễn, vốn là hạt nhân của nhận thức luận Lênin. Ông xem thực tiễn vừa là điểm xuất phát, vừa là thước đo, đồng thời là mục đích cuối cùng của chân lý. Quả đúng thế thật! Nhưng người ta lại hay bỏ rơi giai đoạn trừu tượng hóa bằng tư duy lý luận của chủ thể nhận thức. Không trải qua quá trình phân tích, biện giải, khái quát thì làm sao có chân lý phổ biến? Vai trò của lý thuyết đối với nhận thức con người là hiển nhiên, không cần bàn cãi. Cần tránh không phải là lý thuyết nói chung mà là thứ lý thuyết “xám ngắt”, xa rời nhu cầu và hiệu quả thực tiễn đa dạng của xã hội.

Những ngộ nhận nói trên đều ít nhiều đưa đến thái độ xem thường hệ thống lý luận – vốn là sự kết tinh của tư duy, một thứ tư duy trăn trở và nghiền ngẫm, tự phản và tự tỉnh, tự phán và tự quyết trên cơ sở nội lực mang tính tự giác cao của mỗi cá nhân. Trong khoa học cần nhanh chóng loại bỏ hoàn toàn lối ứng xử trọng tình nhẹ lý. Thiên Li vị (Lã Thị Xuân Thu) viết: “Lí dã giả, thị phi chi tông dã” (Sự lí là căn bản để phân biệt phải trái). Còn dạy: “Biện nhi bất đang lí tắc ngụy, trí nhi bất đang lí tắc trá” (Khéo biện luận nhưng không hợp lý thì giả dối, thông minh nhưng không hợp lý thì xảo trá).

             Đi liền với thói coi thường lý luận là sự ngộ nhận về hai chữ “ tư biện”. Người Việt ta chừng như không mấy thiện cảm (nếu không muốn nói là ác cảm) với hai chữ này. Một người bị xem là ưa tư biện dễ bị ghép vào các tật xấu khác của tư duy như: vu khoát, xảo ngôn, ảo tưởng, giả trá… nghĩa là ẩn mình vào cái tôi chủ quan nhỏ hẹp, xa rời thực tế rộng lớn, xanh tươi. Thật ra, không hẳn là vậy. Hoạt động tư biện thường xuyên làm việc với các phạm trù, khái niệm khoa học. Như nhiều người đều rõ, hệ thống tri thức của một lãnh vực khoa học nào đó được biểu hiện bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù. Chúng là kết quả của quá trình tư duy phân tích và tổng hợp, đối chiếu và liên tưởng phức tạp, nhiều chiều, đa tầng: lịch đại và đồng đại, bề ngoài và chiều sâu, hiện tượng và bản chất, sự kiện và quy luật, ngoại biệt và phổ quát, bộ phận và toàn thể… Một khi nói tư duy lý luận của một người hạn chế hoặc kém cỏi là hàm ý nói người ấy thực chất ít khả năng tư biện, không kiên trì và đam mê làm việc với các khái niệm phạm trù, trong sự liên hệ qua lại nhất quán, logic của chúng, và trong mối quan hệ thường xuyên, bắt buộc với cái chung, cái toàn cục. Người có đầu óc tư duy lý luận phải có năng lực kết nối các luận điểm, luận cứ, luận chứng, nhất là năng lực quán xuyến toàn bộ các yếu tố, các bộ phận trong tính chỉnh thể chung. Như trong kịch vậy, mọi hành động cụ thể phải nằm trong hành động xuyên của toàn vở kịch.

Người thường ít kiên trì đeo đuổi triệt để một ý tưởng trừu tượng đến cùng, xa lạ với óc tư biện vốn là đặc tính của những nhà khoa học, có khả năng đặc biệt cùng sự giác ngộ đặc biệt. Những người này coi đây là sứ mệnh thiêng liêng, buộc phải làm, không thể chối từ, thoái thác. Từ đó mới có đam mê tư duy, biến hoạt động tư duy bằng khái niệm, phạm trù thành thói quen thường trực hàng ngày, hàng giờ. Họ tranh thủ mọi nơi, mọi lúc để suy ngẫm. Và suy ngẫm với họ là hoài nghi, triền miên trong hoài nghi khoa học. Hết câu hỏi này tới câu hỏi khác, không thể và không có điểm dừng. Họ có thói quen và khả năng đặt lại những vấn đề tưởng như là chân lý bất khả nghi. Xét đến cùng, họ đang tuân thủ nghiêm ngặt phép biện chứng duy vật. Chẳng phải triết học macxit từng nhắc nhở: không có chân lý tuyệt đối, con đường nhận thức chỉ là hình trôn ốc ngày càng tiếp cận gần hơn tới chân lý tuyệt đối là gì. Rồi nữa: không có gì con người không thể không biết, chỉ có những điều con người chưa biết đang ở phía trước ta, ở chung quanh ta, thách thức và vời gọi nhu cầu hiểu biết của chúng ta. Trên đường chiếm lĩnh những điều chưa biết, dần dà tiếp cận với chân lý tuyệt đối, chủ thể nhận thức rất có thể lầm lạc. Quyền được sai lầm trên con đường tìm tòi khám phá không biết mệt mỏi của nhà khoa học nên được thừa nhận rộng rãi. Đừng quá khe khắt, để rồi làm thoái chí, nản lòng những người thực tâm. Đặc biệt khi đó là những lĩnh vực còn hoang sơ, lạ lẫm.

Có một thực tế là các nhà khoa học ở ta rất e ngại bị đưa đẩy vào tình thế cực đoan. Thật ra, với những ai hết lòng vì cái mới trong khoa học thường rất dễ thái qúa. Đẩy lý luận đến tận điểm mút cuối cùng bao giờ cũng dễ rơi vào thái cực này hay thái cực khác. Sự cọ xát quyết liệt nảy sinh ra chân lý thường đi liền với trạng thái mất cân bằng. Đầu óc lành hiền hoặc sự đưa đẩy trong tư duy, có thể không sai, nhưng đối với khoa học chắc sẽ không hữu ích bằng những lời nói khác, nói ngược mà có lí. Bởi vì trong trường hợp này người ta phải tự xét lại những điều từng ngự trị lâu đời như là một thứ thánh kinh trong khoa học. Đây chính là lý do khiến tôi thật sự quý trọng nhà nghiên cứu Phan Ngọc. Đọc ông, người ta dễ bác bỏ nhiều điều lắm, như định nghĩa thơ sau đây: “Thơ là một cách tổ chưc ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức này” (Tiểu luận Thơ là gì – “Cách giải thích văn bản bằng ngôn ngữ học”, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2000). Tuy nhiên, ông buộc ta phải suy nghĩ lại, ít ra là suy nghĩ thêm trên cái nền mà ông đặt ra, theo cái hướng mà ông gợi mở.

Tôi ngờ rằng chính thói quen suy nghĩ có chừng có mực là trở ngại chủ yếu khiến ở ta chưa tạo ra được những trường phái trong nghiên cứu khoa học. Bởi một trường phái ra đời bao giờ cũng trên cơ sở phê phán lắm khi đến quyết liệt, không đội trời chung (cố nhiên là về tư tưởng khoa học) đối với những trường phái trước đó. Cái ta quý ở một trường phái khoa học nào đó nhiều khi không ở những quan niệm cụ thể mà ở xu hướng chung trong cách phản biện hoặc ở lối đặt vấn đề mới mẻ. Thường đó là những gợi mở khoa học quý gía, góp phần thúc đẩy tư tưởng nhân loại đi về phía trước.

Tôi luôn tin vào những tri thức được hình thành trong tâm thế tự nghiền ngẫm khoa học, có thể đúng hoặc sai, có thể thành công hay thất bại. Ấy là bởi, đó là cơ sở đích thực hình thành nên niềm tin khoa học vững chắc, bền lâu. Tôi nhớ đến những câu thơ trong bài Đơn giản của thi sĩ người Hàn Quốc Ko Un trong bản dịch của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều:

Chúng ta nói

Mỗi chúng ta chọn một con đường

Vì ai đó khuyên chúng ta lựa chọn

 

Ôi, sự hiểu biết của con người mới thảm hại làm sao!