Khi nhà văn sống và viết hết mình

            I.Bunin, nhà văn Nga đầu tiên được Giải thưởng Nôbel về văn chương có một truyện ngắn đặc sắc viết về chàng thủy thủ Bécna trên con thuyền của Môpatxăng. Bécna, một thủy thủ tuyệt vời, trước lúc qua đời đã nói: “Hình như tôi đã là một thủy thủ không đến nỗi tồi”. Và I.Bunin đã tự viết về mình rằng, ông sẽ thật sự là người hạnh phúc nếu lúc từ giã cõi đời có quyền nhắc lại câu nói của Bécna: “Hình như tôi đã là một nhà văn không đến nỗi tồi”. Thật nhiều ý nghĩa thâm trầm trong ý nguyện cuối đời tưởng như bình dị ấy. Sự thành đạt trong văn chương mới khó làm sao. Một tài năng lớn như I.Bunin cũng đâu dám thỏa mãn với những gì mình viết ra vốn đã được nhiều người ưa thích.

            Có một sự thật tưởng nghịch lý mà hóa ra rất thuận lý là càng lâu năm trong nghề, càng nhiều thành đạt, người cầm bút dường như lại càng cảm thấy chật vật hơn trước trang viết. Họ e ngại cho thanh danh mình ư? Không hẳn. Chủ yếu liên quan đến trách nhiệm trước dòng chữ. Càng viết trách nhiệm này càng cao, và vì vậy sức nặng đè lên ngòi bút càng lớn. Am ảnh họ là những con chữ nhợt nhạt, vô hình vô ảnh vô tâm vô tình, nói gọn lại là vô hồn - Họ e sợ và né tránh chúng như tâm trạng của con người trước hiểm nguy đại dịch vậy.

            Từ đó, theo tôi, nên coi ý thức trước trang viết, khả năng dám sống và viết hết mình là một trong những tiêu chí chủ yếu để nhận ra nhà văn đích thực trong đời sống văn chương thật phong phú mà cũng thật đa tạp như hiện nay. Tôi nói thế là bởi giờ đây người cầm bút thì nhiều mà người chuyên tâm với nghề, dám xả thân “sinh nghề, tử nghiệp” hình như lại không nhiều như chúng ta đòi hỏi và mong muốn. Thật khác với thế hệ các nhà văn lớp trước. Thời chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ý thức nghề nghiệp ở các nhà văn sâu sắc và triệt để lắm. Được cầm bút viết văn là một vinh dự lớn do chức phận xã hội của nhà văn luôn được xác định là rất thiêng liêng. Vậy nên, các nhà văn sẵn lòng hiến thân cho nghề văn gần như không một chút đắn đo, không một chút cầm chừng. Nhà văn Nguyên Hồng đã từng viết những dòng đầy tâm huyết thế này : “Kiếp tái sinh của chúng tôi... một khi chúng tôi lại thấy mùi đất ẩm, thấy không khí, thấy mặt trời, thì khi ngồi dậy chúng tôi sẽ lại cầm ngay lấy bút mà viết... lại tiếp tục làm những công việc hàng ngày để xây dựng đất nước, Tổ quốc Việt Nam và tương lai rực rỡ của nhân loại. Là vì:

                        Hồn còn mang nặng lời thề

                        Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”

                                    (Sức sống của ngòi bút)

            Thời ấy hầu như không mấy ai xem thường văn chương và nghề văn  cả, dẫu chỉ là thoáng qua hoặc nằm trong ý nghĩ thôi. Giờ đây, buồn thay mà cũng tiếc thay, tình hình không còn được như trước nữa. Thậm chí chả nói gì các cây bút nghiệp dư, có những nhà văn hẳn hoi vẫn xem văn chương chỉ là nghề tay trái, rảnh rỗi tranh thủ làm cho vui, vậy thôi. Nghe họ lý sự cũng hay hay : Tạt ngang mà hái được hoa thơm quả ngọt mới tài chớ, còn những kẻ hùng hục, xắn tay lên mà viết, mong lấy công làm lãi thì kể đến làm gì (!?). Họ xa lạ với sự nghiệt ngã của nghề văn. Họ không hiểu rằng lao động văn chương để có hiệu quả cũng phải đổ mồ hôi sôi nước mắt như bao nghề khác. Nhằm thuyết phục người và tự thuyết phục mình, họ dẫn ra hết nhà văn này đến nhà thơ kia, viết cứ như chơi ấy, chẳng vất vả gì, vậy mà liên tục gặt hái những thành công được người đời hết lòng ngưỡng vọng. Họ đâu biết muốn có được những giây phút thăng hoa như vậy, các nhà văn, nhà thơ phải trải qua quá trình ấp ủ, không ít nhức nhối và đau khổ, không ít dằn vặt và ưu tư. Người ta gọi quá trình sáng tác là quá trình thai nghén là với ý nghĩa ấy. Bề ngoài có vẻ nhàn nhã thung dung lắm, nhưng sâu thẳm bên trong luôn quằn quại một nỗi đau sinh thành. Dự đồ nghệ thuật khiến nhà văn không yên : Phải bằng mọi cách thể hiện trên trang giấy với sự hoàn thiện cao nhất, có thể có được. Rồi đến khi mọi thứ được bày trên bản thảo, đọc lại, không mấy khi nhà văn hài lòng với những gì được viết ra. Họ lại lao vào sửa. Lầm lũi làm một công việc vô cùng nặng nhọc mà không kém hứng khởi là tẩy và xóa... Không ít trang viết lại, có khi lại bắt đầu từ những chữ đầu tiên. Muốn thành công hầu như không có con đường nào khác. Thật nghiêm ngặt và khắt khe. Xưa đã thế, nay vẫn thế, và mai sau còn thế. Vậy vì lẽ gì mà giờ đây một số nhà văn mới bước vào nghề lại chưa thật sống và viết hết mình?

            Có thể thấy hiện nay ra một đầu sách chẳng khó khăn là mấy. Tư tưởng được cởi mở hơn trước. Sự phát triển cực nhanh của công nghệ vi tính trợ giúp rất nhiều cho việc in ấn. Đấy là một cơ may chưa từng có đối với nghề viết văn, tuy thách đố cũng nhiều và dữ lắm. Lối làm ăn kiểu ăn xổi ở thì có cơ nảy nở lan tràn. Văn phẩm làng nhàng, được sản sinh không từ những thôi thúc mãnh liệt bên trong, cứ thế được in ra, được bày bán. Chúng lại thường được trình bầy khéo, trang trí đẹp, hơn hẳn những tác phẩm được xếp hạng của các tác gia lớn xưa nay. Hay dở khó bề phân biệt. Thị trường sách vô tình kích thích những cây bút lười nhác muốn thành danh bằng con đường ngắn, ít tốn công tốn sức nhất. Vài tháng viết xong một cuốn tiểu thuyết, một tập truyện ngắn. Chừng năm năm đã có một văn nghiệp dầy dặn đáng kể rồi. Thời trước có nằm mơ cũng không thấy. 

            Đó là nguyên do thuộc hoàn cảnh bên ngoài. Tôi muốn nói nhiều hơn tới những nguyên do sâu xa bên trong mang tính quyết định. Ai cũng biết ngày nay con người bị hút từ nhiều phía. Ý chí con người hiện đại luôn phải đặt trước những thử thách lớn. Biết bao nhu cầu vật chất cũng như tinh thần vời gọi, cái nào cũng có vẻ cần thiết và quyến rũ cả. Trước mắt, nhiều ngả đường mở ra, ngả đường nào cũng hứa hẹn những triển vọng tốt đẹp. Rất khó chọn lựa mục đích. Chọn được rồi, con người cũng khó kiên tâm đeo đuổi đến cùng. Có thể nói chưa bao giờ con người lại ít có khả năng làm chủ bản thân đến thế. Nhiều người thiếu bản lĩnh đã thật sự rơi vào trạng thái mất trọng lượng về tinh thần. Sẽ là bi kịch nếu họ đã bước vào tuổi “tam thập nhi lập”. Nghề văn cũng không ra khỏi cái khó chung ấy. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, hiện trạng này cũng có cái hay của nó. Cuộc sống tự thanh lọc. Ai sớm nhận ra tư chất văn chương ở mình,  nguyện sống chết suốt đời với nó thì người ấy sẽ có cơ sở đến đích...

            Một ngáng trở khác, trực tiếp hơn mà cũng đáng nói hơn, nằm trong quan niệm về sứ mạng văn chương ở người cầm bút. Trước đây, trong thời chiến, ý nguyện xả thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ sự toàn vẹn của non sông thấm vào mọi suy nghĩ và hành động của mỗi người Việt Nam, trong đó có văn nghệ sỹ, một cách rất tự nhiên.

            Máu thấm vào lòng đất đã sâu

            Sao trang giấy lòng anh suy nghĩ cạn?

Đó là nỗi trăn trở không chỉ của Chế Lan Viên. Giờ đây, khi trở về với cuộc sống đời thường, dường như trong quan niệm của một số người văn chương không còn mang sứ mạng vẻ vang như trước nữa. Vậy có cần hiến thân cho văn chương như thế hệ đàn anh đã từng làm? Ở đây, tôi thấy cần nhắc lại câu nói của văn hào Đôxtôievxki: “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Câu nói càng đặc biệt có ý nghĩa khi nhân loại đứng trước nguy cơ kỹ trị như hiện nay. Nhiều người có trách nhiệm và giàu tâm huyết đã từng rung chuông báo động về tấn bi kịch khủng khiếp này rồi. Khi con người không còn biết rung động trước cái đẹp nhỏ nhoi, cái đẹp mong manh thì cuộc sống sẽ ra sao đây!

            Dẫu thế nào, trang giấy và ngòi bút vẫn luôn chờ đợi lao động sáng tạo miệt mài của nhà văn. Bêse viết rằng: Một nghệ sỹ quên rằng anh ta trước hết và chủ yếu là một người lao động thì hoặc đã lầm lẫn trong việc chọn nghề hoặc đã phản bội nó, từ bỏ sở nguyện của mình. Có lẽ, đó là điều cốt tử  nhất đối với những ai muốn dấn thân vào con đường viết văn.

                        Trăm năm tính cuộc vuông tròn

            Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông

Vâng, nghiệp văn là vậy, nếu muốn chiếu sáng thì hãy tự cháy lên!

                                                                                                Đà Lạt, 20-9-97