Đổi mới càng phải coi trọng tính lý tưởng của văn chương

Văn chương nước ta đang thực sự chuyển mình trước yêu cầu đổi mới, bức bách và sống còn. Chúng ta đã thu được những thành tựu bước đầu, những bài học quý giá. Tuy nhiên, không phải không còn những vấn đề cần được tiếp tục giải quyết để công cuộc đổi mới đi đúng hướng, vững chắc và hiệu quả, phù hợp với hướng chung của thời đại cũng như lòng mong muốn của chúng ta. Một trong những vấn đề đó là: Phải chăng đổi mới văn chương không cần coi trọng tính lí tưởng? Bởi giờ đây, trong không khí đổi mới, không ít người coi nhẹ thậm chí hoài nghi tính lí tưởng của văn chương. Với họ, hình như tính lí tưởng đồng nhất với sự tô hồng, văn chương mang tính lí tưởng là thứ văn chương minh họa giản đơn thô thiển. Sự thể ra sao? Vì sao có hiện trạng này?

Sau khi hoàn thành thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và thống nhất đất nước, từ thời chiến chúng ta đã chuyển sang thời bình. Nhiều biến đổi đã xảy ra đối với cả dân tộc và đối với từng con người. Trong chiến tranh, chúng ta chủ yếu sống bằng niềm tin và khát vọng chiến thắng - được xây dựng trên cơ sở chắc chắn, cố nhiên. Câu thơ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai" phản ánh đúng tâm trạng của một thời. Không thể hình dung nổi nếu thiếu niềm tin và khát vọng ấy, liệu dân tộc ta có thể vượt qua được những thử thách gay go và ác liệt như đã từng trải qua hay không! Đến khi trở về với cuộc sống hòa bình, mỗi người phải đối diện với bao nhu cầu hàng ngày, lớn và nhỏ, đa tạp và phong phú. Do hậu quả của thời kì chiến tranh kéo dài, do sai lầm của chúng ta trên lãnh vực kinh tế và quản lí  xã hội, đời sống của nhân dân ta nhất là đời sống vật chất rất khó khăn và nghèo nàn. Đặc biệt, có dịp đối chiếu với các nước có hoàn cảnh tương tự như ta đã nhanh chóng vươn lên thành những nước có nền văn minh vật chất phát triển, giàu có và thịnh vượng, chúng ta không một chút yên lòng. Từ đó, cái nhìn hạn hẹp, thực dụng và nhất thời đã trở nên khá phổ biến, nằm ngoài sự mong mỏi của chúng ta. Đời sống tinh thần dần dần bị không ít người xem nhẹ; cuộc sống cơm áo thường nhật ngày càng hạ thấp những ước mơ. Cũng có lúc nhiều người giật mình tự vấn. Nhưng rồi những lo toan hàng ngày lại ập đến. Họ lại buộc lòng lao vào giải quyết, hối hả và ưu tư. Cứ thế, dần dà nhu cầu vật chất có xu hướng lấn át nhu cầu tinh thần, sự thật trước mắt che khuất khát vọng tương lai. Đó là thực tế đau lòng nhưng không phải không có nguyên do xã hội khiến nó nảy sinh.

Về mặt văn chương, bước đầu của công cuộc đổi mới là sự nhìn nhận lại chặng đường văn chương trong thời kì chiến tranh và cách mạng. Điều này đúng và cần! Phải biết mình đang ở đâu mới rõ mình cần đi đến đâu. Như bao nền văn chương và bao thời kì văn chương khác, nền văn chương cách mạng của chúng ta trong chặng đường sinh ra và lớn lên tất nhiên có cái được và cái chưa được. Cũng là lẽ thường tình, nhất là khi chúng ta biết rằng nó được sinh ra trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt như thế nào. Đáng tiếc, một số người đã coi nhẹ cái được và quá nhấn mạnh cái chưa được, nhất là giải thích chúng thiếu quan điểm lịch sử - cụ thể, tạo nên cảm giác hình như họ có khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn chương trong giai đoạn vừa qua. Một mặt phải thấy phần đông những cây bút này mang nhiệt tình đổi mới không có ý phủ nhận những thành quả của văn chương cách mạng mà chính họ cũng góp phần tạo dựng nên. Mặt khác phải thấy trong quan niệm đổi mới của họ không phải không có điều đáng bàn. Trước hết, bước vào thời kì đổi mới không có nghĩa trước đây hoàn toàn sai. Thật ra chủ yếu là vấn đề phù hợp hay không phù hợp. Chân lí bao giờ cũng mang tính cụ thể là vì vậy. Thêm vào đó, đổi mới không có nghĩa là cắt đứt với quá khứ. Có chăng ta chỉ đoạn tuyệt với cái lỗi thời, cái lạc hậu mà thôi. Nói khác đi ta cần lưu giữ và phát triển những cái tốt đẹp của giai đoạn trước đây. Một trong những đặc điểm và cũng là thành tựu của văn chương ta thời kì vừa qua là sự nổi trội của tính lí  tưởng. Nếu không giàu chất lí tưởng, chất lãng mạn thì những tác phẩm thời ấy không say cuốn thúc giục lòng người đến vậy. Mà đây lại là đòi hỏi của chính đời sống. Chỉ có thứ văn chương thờ ơ với những nguyện vọng da diết của dân tộc mới quay lưng lại những đòi hỏi chính đáng ấy. Tất nhiên tính lí tưởng phải đi liền và hòa quyện với tính hiện thực. Nói như một nhà lí luận, văn chương cần như một người đứng vững hai chân trên nền đất Mẹ còn vầng trán và ánh mắt thì hướng tới bầu trời cao rộng. Và ở đây, không phải tác giả nào, tác phẩm nào cũng làm được. Bước vào công cuộc đổi mới thay vì duy trì tính lí tưởng, gia tăng tính hiện thực thì một số người lại xem nhẹ tính lí tưởng. Họ rơi vào một thái cực khác, chẳng thuyết phục gì hơn.

Chúng ta luôn yêu cầu văn chương phải gắn với đời sống của con người. Trong đời sống, theo quy luật, cái mới luôn phôi thai và nảy nở. Trong con người, theo bản chất, luôn duy trì những khát vọng và ước mơ. Cuộc sống đáng yêu, con người đáng quý là vì vậy. Do đó, văn chương gắn bó với con người và đời sống không thể xa rời cái mới dồi dào sinh lực đang phát sinh và những ước nguyện cao đẹp đang tồn tại. Chất hiện thực của văn chương theo đúng nghĩa của nó phải dung nạp chất lí tưởng. Hiện thực trần trụi, hiện thực một chiều không nằm trong quan niệm biện chứng của chúng ta. Hơn thế, cuộc đời sinh ra văn chương, ra nghệ thuật là có cái lẽ riêng. Một trong những biểu hiện quan trọng của cái lẽ đó chính là ở chỗ: Sinh ra văn chương, nghệ thuật để con người gửi gắm lòng tin cũng như khát vọng của mình đối với cuộc sống. Quả thực không có lĩnh vực nào như trong lĩnh vực này, niềm tin và ước vọng của con người lại được lưu giữ nhiều đến vậy. Các bậc thầy văn chương của dân tộc và nhân loại mỗi người mỗi vẻ nhưng đều dạy chúng ta hãy tin yêu cuộc sống dù hoàn cảnh có cay nghiệt đến đâu, hãy cảm thông với con người dù nó bị tha hóa đến mức nào! Đó là biểu hiện của chủ nghĩa nhân bản góp phần làm nên những giá trị vĩnh hằng. Lịch sử văn chương của dân tộc và nhân loại đã có nhiều hiện tượng tiêu biểu minh chứng điều đó. "Truyện Kiều" là một dẫn dụ. Ai cũng biết "Truyện Kiều" còn lại với đời chủ yếu là bởi tấm lòng của Nguyễn Du - "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Đó là những giọt nước mắt nhỏ xuống thân phận nàng Kiều. Đúng! Nhưng đó còn là sự chia sẻ những khát vọng lớn lao về tình yêu, về hạnh phúc và lẽ công bằng ở đời. Bước chân "xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" của Thúy Kiều đến với tình yêu tự do trong đêm trường phong kiến quả là táo bạo, nói như nhà phê bình quá cố Hoài Thanh "đến nay vẫn còn làm ngơ ngác nhiều người". Cũng thật táo bạo khi Nguyễn Du để lưỡi gươm của Từ Hải vung lên, bao bất công được san bằng. Nàng Kiều được đưa lên vị trí của quan tòa, ân oán rạch ròi, phải trái công minh nhờ lưỡi gươm ấy. Chúng ta đã chấp nhận và đánh giá cao phẩm chất đó trong "Kiều".

Thật ra, việc coi trọng tính lí  tưởng bên cạnh tính hiện thực vốn nằm trong nguyên lí bao quát về vai trò sáng tạo của nhà văn. Cùng với sự đổi mới trong sáng tác, thậm chí đi trước sự đổi mới trong sáng tác, là sự đổi mới về quan niệm văn chương. Nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra. Và thật đáng mừng là càng ngày chúng ta càng bình tâm hơn trong việc xem xét nhiều vấn đề vừa cơ bản vừa cấp thiết của lí luận. Đường hướng chính của công cuộc đổi mới văn chương trên bình diện quan niệm, theo tôi, chính là việc trả văn chương về với vị trí vốn có của nó trong cuộc đời. Nói một cách khác, đặc thù của văn chương chính là trung tâm của sự tìm tòi trên phương diện lí luận hiện nay. Việc nhận chân lại các mối quan hệ giữa văn chương và chính trị, giữa văn chương và đời sống... chính là nhằm sáng tỏ nét riêng của văn chương so với các hình thái ý thức khác, các hoạt động tinh thần khác của con người. Trong khi đó, nguyên lí về vai trò quyết định của chủ thể sáng tạo càng ngày càng được thừa nhận như là vấn đề cốt lõi của đặc trưng văn chương. Vấn đề này quả không mới mẻ gì. Ngay từ thời cổ đại, nhà mĩ học vĩ đại Arixtôt trong "Thi pháp học" đã cho phép nghệ sĩ cái quyền "bổ sung vào cái không có trong tự nhiên". Bên cạnh yêu cầu mô tả sự vật "như chúng ta đang tồn tại", ông còn đòi hỏi miêu tả sự vật "sẽ là như thế". Tính tích cực chủ thể được đánh giá rất cao trong quan niệm của Arixtôt ở phương diện tính lí tưởng. Ngày nay, chúng ta cần duy trì và nâng cao quan niệm đó của ông.

Để kết luận, tôi xin đưa ra một bài thơ ít được biết đến nhưng rất có ý nghĩa - bài "Chân trời" của Phạm Quốc Ca:

Trong đôi  mắt trẻ thơ của tôi

Chân trời là nơi có dãy núi màu tím

Dãy núi ấy bây giờ tôi đến

Trước mắt tôi lại một chân trời (*)

Chân trời nối những chân trời..., ước mơ nối những ước mơ... Mong rằng nền văn chương của chúng ta luôn mở ra những chân trời cao rộng, thúc giục con người hướng về phía trước.

 


(*) Tập “Chân trời mở” - Phạm Quốc Ca, Nxb Văn hóa - Thông tin, H., 1994, tr 80.