Hướng tới nền lý luận văn học nghệ thuật cho các dân tộc thiểu số Việt Nam

Nha Trang. Nhà Sáng tác trông ra Đại dương. Trại dành cho Hội Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số.  Vào một ngày tháng Sáu. Tháng sáu ơi  em nhân hậu, hiền lành/ Phượng cháy hết mình, mưa rơi hết hạt/ Nắng rải mật những ngả đường khô khát/ Chớp bể mưa nguồn, em vẫn hát về sông (Thơ Nguyễn Thị Mai). 15 văn nghệ sỹ khắp cả nước. Nhiều người đã thành danh. Phần đông còn khá trẻ, cả tuổi đời, cả tuổi nghề. Tôi gặp Phó chủ tịch  Thường trực Hội – Nhạc sỹ Nông Quốc Bình. Anh vào trực tiếp tổ chức và chỉ đạo Trại. Tôi biết nhiều năm nay anh trăn trở hoài về hoạt động lý luận, phê bình của Hội. Cũng là nỗi trăn trở chung. Vài năm trở lại đây, giới văn học nghệ thuật trong cả nước hướng tới nhiều hội nghị, hội thảo chuyên về lý luận, phê bình. Hoặc quy mô khu vực, hoặc giới hạn trong các chuyên ngành. Trăm nhánh đổ về Sông Cả… Tháng 3 năm 2006 này, Hội nghị Lý luận, phê bình Văn học Nghệ thuật Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức … Như đọc được nỗi băn khoăn của người lãnh đạo Hội, tôi hình dung ra một cuộc Đối thoại giả tưởng giữa Nhà quản lý và Nhà lý luận sau đây.

Nhà quản lý: Hội ta năm nay chỉ có mỗi Trại này. Mong anh góp sức thúc đẩy hoạt động lý luận, phê bình vốn còn yếu và mỏng. Để tập trung, tôi xin đề nghị ta chỉ nên bàn xoáy vào hoạt động lý luận. Bởi lý luận vốn là nền tảng của mọi nền tảng mà!

Nhà lý luận: Vâng, nhà thơ Lâm Quý bảo: tạo dựng lý luận với nhà văn như xây một cái cổng, nghĩa là đưa ra một hướng nhìn. Nó quyết định tất cả. Nhà thơ trẻ Bùi Thị Tuyết Mai thì lại cho rằng: giải quyết lý luận là giải quyết cách thức giải mã, các nhà phê bình phải nương theo nó khi hành nghề. Nói một cách sách vở thì lý luận là thứ mỹ học của nghệ thuật, trong khi phê bình chỉ là sự vận động của mỹ học nghệ thuật ấy thôi. Có nghĩa phê bình chỉ là sự vận dụng ở bậc hai, bậc ba … Ta bàn tới lý luận trước tiên cũng là hợp lẽ. Mà không chỉ có vậy đâu, lý luận còn là sự tự ý thức của văn học nghệ thuật nữa. Nó là dấu hiệu rõ rệt của một nền nghệ thuật đã trưởng thành.

Nhà quản lý: Tôi hoàn toàn tán đồng với anh.

Nhà lý luận: Cứ từ sự nghiệp của một nghệ sỹ mà nghĩ. Phải có kinh nghiệm sáng tạo, hơn thế, phải có thành tựu sáng tạo mới có thể phát biểu quan niệm của mình về nghề được. Như Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh, Lâm Quý ấy … Có phải ai cũng tuyên ngôn về thơ như họ được đâu! Suy rộng ra, một nền văn học nghệ thuật cũng thế. Phải đạt tới một trình độ nhất định mới có thể tự ý thức được về mình. Mà cũng nên phân biệt quan niệm thông thường với quan niệm lý luận. Phải rất tự giác, lại có hệ thống mới mong đạt tới trình độ lý luận.

Nhà quản lý: Nghĩa là, quan niệm lý thuyết còn cao hơn một bậc.

Nhà lý luận: Không chỉ cao hơn, mà theo tôi còn triệt để hơn. Đúng ra là cao hơn vì triệt để hơn.

Nhà quản lý: Nhưng theo anh, có hay không nền lý luận Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số?

Nhà lý luận:  Ý anh muốn hỏi lý luận của hay cho Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số? Vì của là sở hữu, còn cho là chức năng. Một đằng là xác lập chủ quyền, một đằng lại hạn định sự phục vụ. Cụ thể, theo anh, có tồn tại không một nền lý luận của chúng ta?

Nhà quản lý: Tôi nghĩ là không. Ở Trung Quốc có thời cũng đặt ra câu hỏi tương tự. Và họ bảo là không có.

Nhà lý luận: Tôi cũng cho là thế. Lý luận văn học nghệ thuật là của chung, không thể có ranh giới quốc gia hay dân tộc. Tuy, chắc anh cũng đồng ý với tôi là có thứ lý luận cho Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Việt Nam chứ?

Nhà quản lý:  Cố nhiên. Đấy là cái ta đang cần. Mỗi nền văn học nghệ thuật, ngoài những vấn đề chung ra, còn có những vấn đề riêng của mình, đòi hỏi lý luận phải giải quyết. Nhà lý luận có trách nhiệm không được phép thoái thác, chối từ.

Nhà lý luận:  Anh có lý. Vậy ta hãy bắt đầu từ cái chung nhỉ? Lý luận muốn có sức mạnh phải có sức sống. Người ta thường phàn nàn về tệ khuôn cứng của nhiều lý thuyết ở ta. Ấy là bởi, lý luận chưa gắn với thực tiễn muôn màu muôn vẻ của văn học nghệ thuật. Nó chưa thật sự là lý luận từ (điểm xuất phát) văn học nghệ thuật và về (chỗ đi tới) văn học nghệ thuật.

Nhà quản lý:  Vậy theo anh, nên bắt đầu tháo gỡ từ đâu?

Nhà lý luận: Nên bắt đầu từ tác phẩm, vì tác phẩm bao giờ cũng giữ vị trí trung tâm của nền văn học nghệ thuật. Phải bằng mọi cách, bằng mọi giá phân biệt nó với các sản phẩm tinh thần khác của con người và xã hội.

Nhà quản lý:  Liệu có sự khác biệt đến cô lập như vậy không?

Nhà lý luận: Anh nói đúng. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, để nhận chân ra nét đặc thù của tác phẩm nghệ thuật, nếu chỉ đi  vào bản thể sẽ không thể giải quyết trọn vẹn được vấn đề. Như việc tìm hiểu bản tính con người ấy, phải đặt trong nhiều mối quan hệ khác nhau mới mong có kết quả. Con người có nhiều chiều kích, nhiều phương diện. Bản chất con người bộc lộ qua tất cả các chiều kích và phương diện ấy.

Nhà quản lý:  Nhưng rồi cũng phải trở về với bản thể của văn học nghệ thuật chứ!

Nhà lý luận: Vâng. Câu hỏi then chốt mà bao quát nhất vẫn là: Vậy rốt cuộc tác phẩm văn học nghệ thuật là gì?

Nhà quản lý: Ôi, định nghĩa nghệ thuật thì rắc rối lắm! Theo chỗ tôi biết, càng những người thông thái và sành nghề thì họ lại càng thận trọng khi có ý định đưa ra quan niệm của mình về tác phẩm nghệ thuật.

Nhà lý luận: Không chỉ thận trọng đâu, họ còn hoài nghi chính những gì mình đã viết, đã nói về bản chất của tác phẩm nữa. Nó là sự sống mà! Nhưng chẳng nhẽ lại dừng bước mà hài lòng với thuyết bất khả tri. Rồi cũng phải đưa ra quan niệm của mình thôi. Sai đúng, thiếu đủ sẽ được người khác bổ sung, sửa chữa.

Nhà quản lý: Vậy theo anh, đâu là chất nghệ thuật đích thực?

Nhà lý luận: Nó phải là sự tổng hoà của nhiều đặc tính. Như sự sống, đặc biệt là như sự sống kết tinh nhất là con người ấy. Theo ý tôi, hãy cứ từ tính người nơi con người để đến tính nghệ thuật trong tác phẩm. Thú thật, tôi chưa bao giờ ứng xử với một công trình nghệ thuật lại không như một con người cả. Mỗi tác phẩm là một thế giới riêng, do vậy mà mỗi tác phẩm có con đường riêng để chiếm lĩnh, có cách riêng để giải mã.

Nhà quản lý:  Nhưng chắc phải có cái chung trong bản thể tạo ra những cách thức chung trong tìm hiểu chứ?

Nhà lý luận: Tất nhiên. Theo tôi, có lẽ là ở trong các đặc tính sau: Độc đáo; Hữu cơ; Cụ thể; Vận động; Gợi cảm; Giới hạn … Chúng kết gắn, hài hoà trong tác phẩm, cố nhiên. Các đặc tính này sẽ chi phối tới hoạt động sáng tạo. Đó là vấn đề lớn thứ hai của lý luận: Tìm hiểu đặc thù của tư chất nghệ sỹ do đặc thù của lao động nghệ thuật đòi hỏi.

Nhà quản lý: Các văn nghệ sỹ Hội ta đang trông chờ sự gợi ý của các nhà lý luận …

Nhà lý luận:  Là nghệ sỹ, tôi nghĩ chỉ có một việc lớn phải làm là sáng tạo hình thức cho nội dung. Nội dung và hình thức chẻ hoe ra cũng được, nhưng chỉ để nhận thức cho rành rọt thôi. Thực tế thì không phải vậy đâu. Lý luận văn học nghệ thuật hiện đại hết sức tránh lối nhìn nhị phân. Hình thức nghệ thuật khác hình thức nhận thức là ở chỗ đó: ở cái sau ta không tìm thấy dâu ấn cá nhân. Hình thức trong nghệ thuật là hình thức kiến tạo nội dung, tuyệt nhiên không giống với lối ví von thô thiển bấy lâu nay là bình để chứa rượu. Trong tác phẩm nghệ thuật, nội dung và hình thức như hai mặt của một tờ giấy, không thể tách rời. Bởi vậy, lý luận nghệ thuật hiện đại phân biệt dứt khoát hai loại hình thức: hình thức tổ chức vật liệu  hình thức sáng tạo nội dung. Nội dung cũng có hai loại: nội dung chất liệu  nội dung do hình thức sản sinh. Chỉ có hình thức và nội dung sau mới được thừa nhận là nội dung nghệ thuật  hình thức nghệ thuật.

Nhà quản lý:  Vậy là hình thức, theo quan niệm hiện đại, chỉ liên quan đến sự chế ngự vật liệu.

Nhà lý luận: Quả thế! Mỗi loại hình nghệ thuật có vật liệu riêng: như Văn học là ngôn từ, Âm nhạc là âm thanh, Mỹ thuật là màu sắc, đường nét… Sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ sỹ trước hết là sự chế ngự vật liệu như anh nói. Cái chính ở sự sáng tạo nội dung của người nghệ sỹ bao giờ cũng cần được hiểu trên hai mặt: Tư tưởng  Đời sống. Nghệ thuật mà ta mong muốn xây dựng dứt khoát không thể là thứ nghệ thuật vị nghệ thuật được. Điều này thì dễ thống nhất. Nhưng ta hay quên sự khám phá tư tưởng. Trong khi, chính ánh sáng của nó, cùng với phù sa của cuộc đời mới làm nên sức sống của mọi tác phẩm văn học nghệ thuật lớn xưa nay.  Dân tộc nào, thời nào cũng đều thế cả. Hầu như không có ngoại lệ.

Nhà quản lý: Đấy là vấn đề lớn thứ hai – xoay quanh nghệ sỹ. Còn vấn đề lý luận lớn thứ ba?

Nhà lý luận: Là công chúng nghệ thuật. Ta vẫn thường bàn đến công chúng nhưng nhiều người quen nhìn công chúng đơn thuần như là người cảm thụ nghệ thuật. Cần thấy tác động tích cực trở lại của công chúng tới tác phẩm và nghệ sỹ.

Nhà quản lý: Tích cực, chủ động, đúng quá rồi. Rất hợp với tinh thần dân chủ thời nay.

Nhà lý luận:  Công chúng thật ra tác động tới nghệ sỹ ngay từ khâu sáng tác kia! Còn ít nghệ sỹ tự giác nhận ra điều đó. Chính “tầm đón nhận” (chữ của Nhà lý luận người Đức H. Jauss) quyết định. Không chỉ tới số phận mà còn tới tầm vóc của tác phẩm. Như người đời thường nói: người thông minh bao giờ cũng viết dành cho những người thông minh đọc. Vậy là không thể tính đến việc nâng cao chất lượng tác phẩm mà không đoái hoài gì đến công chúng. Nếu không nhận ra mối liên hệ hiện hữu và tinh vi ấy, đôi khi sẽ rơi vào bế tắc, hay ít nhất là sẽ kém hiệu quả. Nhất là với Hội ta. Phải thừa nhận là công chúng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số chúng ta còn chưa ngang tầm với mặt bằng chung của cả nước, nói gì đến tầm thế giới và tầm thời đại. Mà thôi, ta hãy quay lại nền lý luận cho Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số chúng ta vậy.

Nhà quản lý: Tôi hiểu vấn đề ở đây thực chất là giải quyết mối quan hệ  chung - riêng?

Nhà lý luận: Triết học dạy ta: cái chung chi phối cái riêng, nhưng cái riêng bao giờ cũng phong phú, giàu có hơn cái chung. Như vậy, ta đòi hỏi nét đặc thù của lý luận cho Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số là hoàn toàn hợp lý. Còn hợp thời nữa. Lý luận ta đang thiếu, rất thiếu điều này.

Nhà quản lý:  Khâu gỡ trước tiên, theo anh, nằm ở đâu?

Nhà lý luận: Phải từ đòi hỏi của chính đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số qua văn học nghệ thuật của mình.

Nhà quản lý: Bấy lâu, chẳng phải ta đã từng giải quyết vấn đề đó rồi sao?

Nhà lý luận:  Đúng ra, ta mới chỉ  tập trung giải quyết trên phương diện văn hóa dân tộc. Người có đóng góp nổi bật trong việc làm rõ bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam là nhà thơ Nông Quốc Chấn. Đã đến lúc chúng ta cần phải giải quyết trên phương diện văn học nghệ thuật. Ý tôi muốn nói, ta mới nhận diện sắc thái văn hoá, văn nghệ dân tộc – miền núi, chứ chưa bàn kỹ đòi hỏi của thực tiễn văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số trên phương diện lý luận nghề nghiệp.

Nhà quản lý: Vậy là cần bắt tay vào làm để dần dần lấp đầy chỗ trống đó …

Nhà lý luận: Trước tiên là nhằm đáp ứng những đòi hỏi tự nhiên của đời sống văn học nghệ thuật các dân tộc.

Nhà quản lý: Tôi chia sẻ với anh.

Nhà lý luận: Vậy thì chúng ta hãy cầu chúc cho thứ lý luận đó mau chóng được tạo lập.

Nhà quản lý:  Không, ý tôi là hãy khẩn trương bắt tay vào làm. Ta bày tỏ mong muốn lâu rồi, nhiều rồi.

Nhà lý luận: Cơ sở phải là thực tiễn hoạt động và sáng tạo của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số chúng ta. Đó phải là công việc của nhiều người.

Nhà quản lý:  Giàu khả năng, đã đành. Mà tâm huyết còn phải giàu hơn.

Tôi đã đặt dấu chấm hết cho bài tiểu luận dưới hình thức đối thoại giả tưởng của mình. Vào 0 giờ 1 phút ngày 6/6/2006 (một ngày thật đáng nhớ – toàn số 6), tôi chợt thức giấc. Bên ngoài thật im ắng. Tất cả đều đang đi vào giấc ngủ sâu. Vậy là đánh thức tôi chắc không phải là nhân tố đến từ bên ngoài. Khi ấy tôi mới nhận ra tiếng nói khẽ khàng, rụt rè hồi nãy. Dù mơ hồ, tôi cũng hiểu bức thông điệp mang theo nỗi hoài nghi này: Nói về lý luận giữa lúc này ư? liệu có vu khoát không? Lại toàn những chuyện xem ra trừu tượng, xa vời quá! Tôi quyết định thêm phần Vĩ thanh này là vì thế.

Thú thật, lần đầu tiên trong đời cầm bút trên 30 năm trời, tôi cảm thấy hoài nghi chính bản thân mình. Không phải bởi nội dung, mà bởi tính thiết thực của nội dung. Sáng dậy, tôi quyết định gặp những bạn viết của mình ở Trại. May quá, dường như tất cả sự thật đều đứng về phía tôi. Người tôi gặp đầu tiên là nhà thơ  Lâm Quý. Anh nói với tôi những luận điểm chính trong bài tiểu luận mới hoàn thành của mình có tiêu đề là Từ không gian ba chiều, nhìn vào tác phẩm văn học. Lý luận, lý luận đấy! Thuần tuý là đằng khác. Chả thế mà tôi chăm chú mà vẫn chưa lĩnh hội được hết những gì anh chủ tâm diễn giải về không gian ba chiều Thiên -  Địa – Nhân, về Hồn linh – Vật linh – Tâm linh. Thú nhất là anh bảo tìm hiểu tác phẩm như tìm hiểu con người ấy. Đó là thứ sinh vật kỳ diệu vào bậc nhất. Con người đứng bằng hai chân, không như con vật, chúng đứng bằng bốn chân. Cũng không như loài vật, muốn đứng phải ở thế động, như con quay, như bánh xe… Thì ra, rất nhiều điểm giữa anh và tôi đồng điệu. Đồng tâm nhi thù đồ. Rồi tôi còn tìm đến anh Nguyễn Quang Huynh, người đang dự định viết tiểu thuyết lịch sử. Anh cho tôi xem bài viết Đọc tiểu thuyết Khau Slin hùng vĩ của Vũ Ngọc Chương với bút danh Hữu Sơn khá quen thuộc của mình. Để viết tiểu thuyết lịch sử thành công, không thể không biết lý thuyết về nó. Tôi thấy anh đã  tìm đến quan niệm uyển chuyển của nhà văn Pháp A. Đuyma: Lịch sử là gì? Chẳng qua chỉ là cái đinh, ở đó tôi treo những bức tranh sáng tạo của mình”. Rồi một quan niệm nghiêm nhặt khác của nhà văn Nga A. Tolstoi khi viết Pie Đại đế. Đến mức khi đọc xong tác phẩm này, nhà văn Pautovxki đã phải thốt lên: “Xin các nhà sử học đừng giận tôi, nhưng quả tình tiểu thuyết của A. Tolstoi đem lại cho tôi nhiều điều bổ ích về thời kỳ Pie Đệ nhất hơn nhiều công trình nghiên cứu lịch sử”. Vậy là, hình như, với tư cách là nhà lý luận, tôi đã đi đúng hướng.

Buổi chiều, tôi còn tìm đến cây bút trẻ người Mường Bùi Thị Tuyết Mai. Tôi đề nghị em giải thích hai câu thơ đi vào bài thơ Biển xem ra có vẻ không thật logic này: “Bài ca trong khoảng giữa tỉnh táo và dại khờ/ Những con trai ngậm ngọc…” Mai  phải nhờ cậy tới quan niệm sắc sắc không không của nhà Phật để giải thích cho tỏ tường. Tôi đi tới kết luận: không thể xem thường giới trẻ được đâu. Họ nghĩ sâu lắm, chẳng giản đơn chút nào! Cũng vào cái buổi chiều ăm ắp sự sống văn chương ấy, tình cờ Lưu Thị Bạch Liễu – một cây bút thơ trẻ khác nhờ tôi đọc giúp bản thảo. Tôi đọc với tất cả hy vọng có thể có về thế hệ sẽ là chủ nhân của nền văn chương nay mai. Và, Liễu đã không làm tôi thất vọng. Tôi chú ý nhất tới bài thơ có tên rất hậu hiện đại Sông nhìn tôi nhìn sông. Tôi không tự kìm được lòng mình (lại một ngoại biệt ít thấy nữa đối với tôi) để chép ra đây toàn bộ bài thơ này:

Không còn nỗi đớn đau

của chim yến thổ huyết kết từng nhành tơ rồi bị phá mất tổ

Không còn nỗi tái tê

của đoá quỳnh tàn sớm mai nhận ra không ai biết đêm qua 
mình nở

Không còn nỗi trống rỗng

của hàng bằng lăng trút cánh tím như ngàn cơn mưa đổ

rung cành không.

Tôi nhìn những xoáy nước sâu dưới hiền hoà mặt sông

Không biết sông làm thế nào mà vẫn chảy?

Bài thơ có hay không? hay như thế nào? Xin để bạn đọc tự phán xét. Riêng tôi nghĩ, với tư cách  là nhà lý luận, mình không được phép đóng khung tư duy của mình lại. Biết bao chân trời đang mở ra phía trước… Có điều, đến giờ tôi có thể tạm yên tâm khép bài viết của mình lại được rồi.

Câu chuyện xin được kết thúc ở đây. Quanh tôi sóng biển rì rầm. Trước mặt tôi là đại dương bao la…

                                                                                    Nhà Sáng tác VHNT Nha Trang, 6/2006