Hướng đổi mới nội dung lý luận văn chương ở đại học hiện nay

Từ sau 1975, đặc biệt là từ sau 1986 trở lại đây, nhiều nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy các môn học đã được bộc lộ và đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, đã hơn 25 năm, những người có quan tâm đều dễ nhận thấy sự đổi mới như vậy là chưa đầy đủ, mạnh mẽ và triệt để, vì thế chưa đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của sự nghiệp văn học cũng như sự nghiệp giáo dục văn học dân tộc, hiện thời và mai sau. Rất nhiều vấn đề nóng bỏng, vừa cơ bản vừa thiết cốt đặt ra, buộc phải giải đáp, nếu như chúng ta không muốn là người chậm chân và ngoài cuộc. Từ kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi xin tập trung bàn về hướng thay đổi nội dung giảng dạy bộ môn lý luận văn chương ở đại học sao cho phù hợp với điều kiện mới, lại không xa rời đặc thù của văn chương.

            Lý luận văn chương là một trong những môn học cơ bản, góp phần chính tạo nên tiềm lực của sinh viên văn học. Có thể nhận ra một số hạn chế về nội dung giảng dạy bộ môn lý luận văn chương ở khoa văn các trường đại học như sau:

-          Chưa tập trung vào đặc trưng của văn chương.

-          Chưa chú ý đúng mức đến phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu văn chương.

-          Chưa thật sự quán triệt tính dân tộc trong lý luận văn chương.

-          Quan niệm văn chương nhìn chung còn đơn điệu, giản đơn và khuôn cứng.

            Từ thực tế đó, chúng tôi xin đề xuất một số hướng đổi thay chính nhằm dần dần hoàn thiện nội dung lý luận văn chương (chủ yếu là nguyên lý lý luận văn chương) theo yêu cầu dân tộc hóa  hiện đại hóa.

a.      Cần xem đặc trưng văn chương là nội dung cốt lõi của lý luận văn chương

Lý luận văn chương ra đời, phát triển, hòan thiện bao giờ cũng xuất phát từ đòi hỏi của chính thực tiễn văn chương. Hoạt động văn chương trong thực tế vốn rất đa dạng, bao gồm sáng tạo, cảm thụ, nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn chương… Mỗi dạng hoạt động có yêu cầu riêng đối với lý luận, nhưng chúng có chung một yêu cầu nhất quán là lý luận văn chương phải trả lời thấu đáo và thuyết phục câu hỏi: “Vậy rốt cuộc văn chương là gì”? Do vậy, đặc trưng văn chương cần được xem là nội dung cốt yếu của môn lý luận văn chương ở bậc đại học.

            Kể ra từ trước đến nay, không phải ta hoàn toàn không đoái hoài gì tới đặc trưng của văn chương. Nhưng nếu xét ky, chủ yếu ta vẫn coi văn chương hoặc như một hình thái ý thức của xã hội, hoặc như một loại hình nghệ thuật của con người. Tính khuynh hướng chiếm dung lượng khá lớn. Chức năng và đối tượng của nghệ thuật gần như hoàn toàn thay thế chức năng và đối tượng của văn chương. Đặc thù về mặt nội dung chưa được chú trọng. Phương thức thể hiện chưa hoàn toàn xuất phát từ bản thân văn chương…

            Theo chúng tôi, ta có thể tìm hiểu biểu hiện của đặc trưng văn chương trên 5 phương diện cơ bản sau:

-          Về chức năng

-          Về đối tượng

-          Về nội dung

-          Về tính chất

-          Về phương thức thể hiện

Để sự dẫn giải mang sức thuyết phục, cần giới hạn nội hàm của thuật ngữ “đặc thù”, “đặc trưng”. Khi ta xem một biểu hiện nào là “đặc thù” hay “đặc trưng” của một sự vật, hiện tượng, thì không có nghĩa là tuyệt nhiên không tìm thấy những biểu hiện ấy ở các sự vật, hiện tượng khác, mà chỉ có nghĩa là chúng được biểu hiện nổi bật và tự nhiên ở sự vật, hiện tượng đó mà thôi. Tương tự như vậy, những điều trình bày về đặc trưng của văn chương không phải ta không thấy ở những sản phẩm khác, hoạt động khác, lĩnh vực khác. Tuy nhiên, do bản chất vốn có của văn chương, và do đòi hỏi thường xuyên của các hoạt động văn chương, chúng được bộc lộ một cách rõ rệt ở đây, khiến ta có thể dựa vào đó để phân biệt văn chương với các sản phẩm, các hoạt động trong đời sống vật chất và tinh thần của con người và xã hội.

Về mặt chức năng của văn chương, từ khi đổi mới, ta thấy có 3 hướng tìm tòi chính. Một la, bổ sung thêm chức năng; hai la, xác định chức năng cơ bản; và ba la đi tìm chức năng đặc thù. Chúng tôi đặc biệt chia sẻ với hướng sau cùng. Chẳng hạn, Gs Nguyễn Văn Hạnh khẳng định: “ Chức năng cơ bản của văn nghệ là gìn giữ, phát triển và truyền đạt sự sống, chất người cho con người” (Lý luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ – Nxb Giáo dục, 1995, tr.28 ). Cũng từ đây, ta đến với lý luận được trình bày dưới hình thức thơ, ví dụ của Chế Lan Viên :

Đóng bài thơ như cái cọc vào đời để chống nước trôi xuôi.

Làm cho mọi người thấy được cái vô hình này: Thời gian họ sống

Về phương diện đối tượng, ta cần làm rõ mặt thẩm mỹ của đối tượng văn chương. Theo chúng tôi nên đi sâu vào 2 biểu hiện chủ yếu : Một la, vẻ độc đáo thẩm mỹ; và hai la “tính người” của đối tượng. Thế giới tự nhiên, xã hội và con người vô cùng đa dạng và phong phú. Chỉ những hiện tượng nào thỏa mãn 2 yêu cầu trên mới có thể đi vào văn chương, mới được nhà văn chú tâm thể hiện trong tác phẩm. Bao hình tượng văn chương thành công, bao kiệt tác văn chương của dân tộc và nhân loại đều khởi đầu từ đó.

Đặc trưng về đối tượng chi phối tới đặc trưng về phương diện nội dung của văn chương. Do chọn lựa những hiện tượng cụ thể, đặc sắc trong đời sống nên văn chương có sức lay động lớn. Chẳng phải vô cớ mà trong nhiều điểm cần chú trọng khi bàn về nghệ thuật, L.Tônxtôi lại nhấn mạnh: “Khi người xem, người nghe cùng được truyền lan một thứ tình cảm mà người viết đã cảm thấy, thì đó chính là nghệ thuật” (chuyển dẫn, Lý luận văn học – N.A.Gulaiep, Nxb ĐH và THCN, 1982, tr.995). Một quan niệm như vậy nhận được sự tán đồng của nhiều người. Cho nên cần coi tình cảm là một trong những nội dung cơ bản của văn chương. Cố nhiên, đó phải là thứ tình cảm mãnh liệt, gắn với tư tưởng và lý trí, mang tính khuynh hướng và tính xã hội rộng rãi. Cũng do “tính người” của đối tượng nghĩa là luôn đặt sự vật, hiện tượng ngoài đời sống trong mối quan hệ về tư tưởng – thẩm mỹ với con người, nên chủ nghĩa nhân văn cần được xem là nội dung trọng yếu khác của văn chương nghệ thuật. Điều này hoàn toàn phù hợp với những tác phẩm văn chương lớn xưa nay. Tất nhiên ta không tán đồng  một thứ nhân văn chủ nghĩa trừu tượng, tách rời không gian và thời gian, nằm lơ lửng đâu đó khi trong  xã hội còn phân chia thành nhiều giai cấp, giai tầng.

Về mặt đặc tính của văn chương, thường có xu hướng chú trọng tính giai cấp, tính đảng, tính dân tộc, tính nhân dân. Hiển nhiên những đặc tính này là cần. Nhưng cũng rất hiển nhiên là vẻ đặc thù của văn chương chưa rõ. Do vậy, ta cần mở rộng tới những đặc tính riêng biệt khác như tính dân chủ, tính sáng tạo và nhất là tính chủ thể. Văn chưong chân chính bao giờ cũng gắn với đời sống, nhưng đời sống đi vào văn chương lại phải qua sự sáng tạo của nhà văn. Claude Bernard (1813 – 1878) viết: “Nghệ thuật là tôi, khoa học là chúng ta”. Vai trò chủ quan có tính quyết định sự sáng tạo của nhà văn bao gồm nhiều yếu tố : vốn tư tưởng, vốn sống, vốn văn hóa, vốn nghề nghiệp. Không nên chỉ nhấn mạnh tới một yếu tố nào. Cũng cần lưu tâm tới tài năng và quá trình hình thành tài năng của nhà văn. Điều kiện thiết yếu để tài năng văn chương phát lộ là yếu tố thiên bẩm (không thể thiếu), và yếu tố học tập, rèn luyện (mang tính quyết định).

Cuối cùng là đặc trưng của văn chương ở phương thức thể hiện. Điều này trước nay ta đã chú ý, và có lẽ không cần có sự thay đổi gì thật lớn. Tuy vậy, cách hiểu nhiều nguyên lý quen thuộc như “Văn chương là nghệ thuật ngôn từ “chưa phải đã hoàn toàn thống nhất. Với tư cách là phương thức tồn tại của hình tượng, là công cụ thể hiện của nhà văn, “ ngôn từ” cần được hiểu ra sao? Có người đồng nhất “ngôn từ” với “ ngôn ngữ” ; lại có người xem “ngôn từ” là “từ ngữ”. Theo ý chúng tôi, trong trường hợp này,”ngôn từ” chính là “lời nói”, nhưng là thứ “lời nói đặc biệt”, ở chỗ nó phát huy sức mạnh tiềm ẩn vốn có của lời nói vì mục đích nghệ thuật. Đây là cơ sở chủ yếu để phân biệt “ ngôn từ” với lời nói bình thường và “nghệ thuật ngôn từ” với văn bản bình thuờng.

b. Cần gia tăng tri thức về phương pháp, cách thức tìm hiểu văn chương

        Hiện giờ, không ai không thấy vai trò của phương pháp trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy ở bậc đại học. Câu nói nổi tiếng của văn hào Nga L. Tônxtôi luôn được nhắc đi nhắc lại, rằng tìm ra trái đất tròn đã là quý, nhưng chỉ ra làm thế nào đề biết trái đất tròn còn quý hơn nhiều. Vì bằng cách đó, ta có thể biết được những hành tinh khác trong vũ trụ bao la đầy bí ẩn hình hài, dáng vẻ ra sao. Tuy nhiên, tính chủ động tích cực trong việc hình thành phương pháp tìm hiểu cho sinh viên chưa cao và chưa thường xuyên. Kỹ năng nghiên cứu văn chương chủ yếu được định hình dần dà trong quá trình nghe giảng và đọc giáo trình. Tri thức về phương pháp chưa được các giảng viên xem trọng. Có lẽ ta nên thay đổi thói quen này. Chẳng hạn, khi giảng về đặc trưng văn chương, ta nên có hẳn một chuyên mục riêng để xác định phương pháp tiếp cận vấn đề, như : phương pháp chọn lựa; phương pháp đối chiếu, so sánh ; phương pháp loại hình ; phương pháp lịch sử…

        Xin được phân tích đôi điều về phương pháp chọn lựa. Để nhận chân ra đặc điểm của bất cứ hiện tượng, sự vật, con người nào, thao tác chọn lựa luôn được chú ý tới trước tiên. Chọn trúng cái điển hình, nghĩa là cái ẩn chứa những gì tiêu biểu nhất, bản chất nhất là đã rút ngắn được con đường đi tới đích mà vẫn đạt được hiệu quả cao nhất. Để tìm hiểu đặc trưng văn chương, ta phải chọn hiện tượng văn chương tiêu biểu và hoạt động văn chương tiêu biểu để xem xét. Bởi vì, khái niệm văn chương bao giờ cũng đồng thời được hiểu là các hiện tương văn chương như tác phẩm, tác giả, giai đoạn, thời kỳ, phương pháp, trào lưu văn chương… và các hoạt động văn chương như sáng tạo, cảm thụ, nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn chương…

        Hiện tượng văn chương tiêu biểu nhất phải là tác phẩm. Đơn giản là bởi có tác phẩm mới có các hiện tượng văn chương khác. Người ta luôn coi tri thức về tác phẩm là tri thức nền tảng của văn học là vì thế. Tác phẩm văn chương cực kỳ đa dạng, được xếp một cách tương đối vào các loại và các thể khác nhau. Đại thể các nhà lý luận tạm nhất trí chia văn chương thành 3 loại lớn : tự sự, trữ tình, và kịch bản văn chương. Thể văn chương không thể liệt kê ra hết được – chúng phong phú như chính đời sống văn chương. Có thể lớn và thể nhỏ, có thể nằm trong loại lại có thể nằm trên ranh giới giữa các loại. Chọn hiện tượng văn chương tiêu biểu là tác phẩm, có lẽ không nên chọn kịch bản văn chương; nó vốn tồn tại trong sự chi phối không chỉ của đặc thù văn chương mà còn có quy luật của sân khấu, điện ảnh… Vậy là chỉ còn loại tự sự và loại trữ tình. Vấn đề là trong hai loại này ta nên chọn thể nào? Điển hình cho tự sự phải là tiểu thuyết (nơi hư cấu sáng tạo của nhà văn được mặc sức vẫy vùng). Còn điển hình cho trữ tình phải là thơ trữ tình (nơi cảm nghĩ của người sáng tạo được biểu lộ đến cùng). Tóm lại, để dễ dàng chỉ ra đặc trưng của văn chương, nhà lý luận cần chú tâm phân tích tiểu thuyết và thơ trữ tình là chính.

        Hoạt động sáng tạo văn chương của nhà văn dễ được nhất trí là tiêu biểu nhất. Qua loại hoạt động này, vẻ linh diệu và tính phức tạp của văn chương được bộc lộ một cách rõ rệt. Ví như, vai trò của vô thức, trực giác, tiềm thức trong sáng tạo văn chương. Tuyệt đối hóa vai trò của chúng là không đúng, mà xem thường vai trò của chúng cũng không thuyết phục. Nhà thơ Tố Hữu nhận xét : “ Trong quá trình sáng tác có trường hợp tác giả hoàn toàn có ý thức, nhưng có trường hợp không hoàn toàn ý thức được hết, hay nói đúng hơn là không hoàn toàn tỉnh táo trong quá trình sáng tạo” (Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật – Nxb Văn học, 1981, tr.33 ). Biện chứng là ở chỗ, bằng thực tiễn sáng tạo phong phú của mình, ông thừa nhận người nghệ sĩ “ có trường hợp không hoàn toàn ý thức được hết”. Vậy là, không thể dựa vào ý kiến này để phủ nhận vai trò của ý thức hay để hạ thấp vai trò của vô thức trong sáng tạo văn chương. Hay như , chúng ta cần giải thích thế nào về hiện tượng Pautôpxki gọi là “nhân vật nổi loạn”, về điều Nguyễn Đình Thi cho là “các sự kiện cưỡng lại ngòi bút” của nhà văn ? Ta nhớ tới ý kiến chí lý của Baxtiđơ khi trả lời phỏng vấn tạp chí “Châu Âu” : “Nhà văn sáng tạo nên nhân vật để đánh mất ta trong chúng, nhưng một mặt lại sai khiến chúng trong ta” (chuyển dẫn, “Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” – Phan Cự Đệ, Nxb ĐH và THCN, 1975, tr.234). Rõ ràng, tính khách quan và tính chủ quan của hình tượng văn chương đồng thời được chú trọng - thực tiễn và lý luận là hoàn toàn thống nhất.

        Chúng tôi cho rằng tri thức về phương pháp nghiên cứu thể hiện một phần trong hệ thống tri thức lý luận văn chương là hướng tích cực, góp phần tạo nên tiềm lực cho sinh viên – những người sẽ phải hoàn toàn độc lập hoạt động văn chương trong tương lai.

c. Cần triệt để quán triệt phương châm “dân tộc hóa” lý luận văn chương

            Thực tiễn chính trị, xã hội, văn hóa ngày càng chúng tỏ việc giữ gìn, nâng cao bản sắc dân tộc thật quan trọng mà cũng thật gian khó. Do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do trình độ lý luận ở ta chưa phát triển đến độ cần thiết, nên mặc dầu có không ít nỗ lực, phương châm “dân tộc hóa” triệt để lý luận văn chương mới dừng ở mong muốn. Chắc chắn hiện trạng này đã phần nào kìm hãm tới các hoạt động văn chương trong giai đoạn vừa qua. Cần phải làm gì đây? Theo ý chúng tôi, có 2 hướng chính  một là, cần lưu tâm hơn nữa tới thực tiễn văn chương dân tộc; và hai là cần xem trọng hơn nữa di sản lý luận văn chương cổ Việt Nam.

            Đã đành các nguyên lý lý luận văn chương bao giờ cũng có ý nghĩa phổ biến, được khái quát lên từ những hiện tượng văn chương tiêu biểu của mọi dân tộc, thuộc mọi thời đại. Có điều, cái chung không thể bao quát hết cái riêng. Trong khi, ta lại mong mỏi xây dựng hệ thống lý luận văn chương dành trước hết cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động văn chương của nước ta. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, chẳng hạn, nguyên lý “văn chương phản ánh hiện thực” không hoàn toàn thích hợp với quy luật diễn biến và phát triển của văn chương Trung đại củaViệt Nam và rộng ra của Á Đông. Từ đó, khái niệm hình tượng nghệ thuật của Timôfêef được nhiều nhà lý luận khác tán đồng, xem “ hình tượng là bức tranh về đời sống của con người” tỏ ra bất cập khi soi vào thực tiễn văn chương, đặc biệt là thực tiễn thi ca cổ điển Việt Nam. Chúng tôi xin lưu ý tới khái niệm “ ý tượng” được cố GS Đỗ Văn Hỷ đề xuất trong bài nghiên cứu “Thơ với nhà thơ Lê Quý Đôn” (Tạp chí Văn học, Số 6/1984). Trong quan niệm của ông vừa có “ý” vừa có "tượng”; vừa có yếu tố chủ quan vừa có yếu tố khách quan – phải chăng như thế sẽ biện chứng, khoa học hơn.

            Thái độ trước di sản lý luận văn chương cổ dân tộc cũng thật đáng lưu tâm. Chừng 20 năm trước, nhiều người còn đặt câu hỏi nghi hoặc: liệu ông cha có để lại giọt lý luận nào cho con cháu ? Các công trình sưu tầm, biên dịch, giới thiệu, khảo cứu tư tưởng văn nghệ thời Trung đại xuất hiện trong hai thập kỷ gần đây thật sự góp phần đánh tan hoài nghi này. Từ đó đã xuất hiện không ít cố gắng đưa kết quả nghiên cứu vào nội dung đào tạo ở cả những lĩnh vực trước đây hầu như vắng bóng người xưa như đặc trưng văn chương. Chỉ riêng ở đời Trần ta cũng có thể bắt gặp nhiều ý kiến xác đáng, thấm thía. Nghĩ về cái mà ngày nay ta gọi là tính hình tượng của văn chương, Trần Thái Tông trong bài “ Hạnh an bang phủ” viết: “Vạn tượng sinh hào đoan” (Muôn hình tượng nảy ở đầu ngọn bút). Câu văn của Nguyễn Tử Thành trong “Chu trung vãn thiếu” súc tích không kém: “Thập thuý, thu hồng, quy bút để” (Nhặt màu biếc, thu màu hồng, quy về dưới ngọn bút). Hay như về tính khái quát của hình tượng văn chương, ta có thể nhận ra qua câu thơ của Trần Nhân Tông trong bài “Đại giác thần quang tự”:

               Tam thiên thế giới nhập thi mâu

(Ba nghìn thế giới đều thu vào con mắt thơ)

Rồi trong cả ý nguyện của Phạm Sư Mạnh muốn” mượn cả một dòng sông xuân” để làm “ nghiên bút”. Vậy là theo ý chúng tôi “sáng tác ắt sẽ sinh ra quan niệm, dẫu là tập trung hay phân tán, trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác”

(Phạm Quang Trung – Học giả với thi nhân, Nxb Văn hóa Thông tin, 1994, tr.7). Ý thức đề cao một cách chính đáng di sản tư tưởng văn chương cổ xưa của dân tộc cần được thể hiện trong nội dung chương trình bộ môn lý luận văn chương ở bậc Đại học là vì thế.

d. Cần tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với nhiều quan niệm khác nhau về văn chương

Trước nay, do hoàn cảnh đặc biệt, ta chưa đủ điểu kiện để trình bày những quan niệm khác nhau, kể cả đối nghịch nhau trong giảng dạy lý luận văn chương ở Đại học. Trên đại thể, sinh viên chỉ mới làm quen với 3 quan niệm chính sau đây:

-          Văn chương là một hình thái đặc thù của ý thức xã hội.

-          Văn chương là công cụ hiểu biết, khám phá, sáng tạo thực tại xã hội, chủ yếu là đời sống con người.

-          Văn chương là nghệ thuật ngôn từ.

Kinh nghiệm nghệ thuật trong thời buổi giao lưu như ngày nay buộc ta phải mở rộng cửa hướng tới những chân trời khác. Người ta thường so sánh rất đúng văn chương với sự huyền ảo lung linh của tình yêu, nhiều khi cảm thấy mà khó nói ra, và trên thực tế không nên hài lòng với chỉ một quan nịêm nào đó về tình yêu. Chúng tôi thì nghĩ, văn chương vi diệu như chính sự sống, từ nhiều giác độ khác nhau, mỗi giác độ chỉ có thể phát hiện ra một  đôi điều, mới mong có một quan niệm tương đối đầy đủ về nó. Một cách nghĩ như vậy có lẽ mới là biện chứng. Do đó, ta có thể và cần phải cho sinh viên tiếp xúc với những quan niệm khác như:

-          Văn chương là tiếng nói của con người.

-          Văn chương là một hệ thống cấu trúc nghệ thuật độc đáo.

-          Văn chương là một phát ngôn nhằm vào cách diễn đạt.

-          Văn chương là một hình thái giải thoát nội tâm…

       Chúng tôi xin đi vào quan niệm “Văn chương là tiếng nói của con người”. Một loạt câu hỏi được đặt ra. Khi nào con người cần nói? Đó là khi có điều gì day dứt ở bên trong, muốn được gĩai bày . Mục đích của lời nói? Ấy là mong tìm sự sẻ chia, đồng ý đồng tình của người khác. Muốn vậy lời nói phải thế nào? Phải có ý truyền đạt và có cách thức truyền đạt. Ý cần đúng, sâu, và mới; cách thức phải phù hợp, hấp dẫn. Về thực chất, sự sáng tạo văn chương cũng là thế! Nó là lời nói của con người với con người, về đời sống và vì đời sống, nên nó không được phép xa rời con người và đời sống. Cũng như lời nói bình thường, nhà văn phải xem trọng giọng điệu. Nhà lý luận Khraptrenkô khẳng định, giọng điệu “ là phương tiện quan trọng nhất của tác phẩm nghệ thuật”, nếu “bỏ qua giọng điệu thì chẳng những không có quá trình lĩnh hội thế giới bằng thẩm mỹ mà cũng không có việc thể hiện các kết quả nhận thức cuộc sống thực tại bằng hình tượng” (Sáng tạo nghệ thuật – hiện thực, con người, Nxb Khoa học Xã hội,1984, tập I, tr.310). Thơ hẳn nhiên cần giọng điệu; văn xuôi cũng có thứ “âm thanh” riêng của nó.

            Như vậy, việc mở rộng quan niệm về văn chương thực chất là để lý luận phản ánh trung thực hơn các hiện tượng văn chương muôn vẻ vốn là một thực thể tinh thần linh diệu của con người. Như viên kim cương dưới ánh sáng mặt trời, từ mỗi góc nhìn, nó ánh lên sắc màu riêng, nhiều góc nhìn hợp lại, ta sẽ hình dung ra đầy đủ hơn giá trị thẩm mỹ của nó.

            Trở lên trên, chúng tôi đã trình bày những hướng đổi thay nội dung môn lý luận văn chương ở khoa Văn các trường Đại học cho phù hợp với xu thế đổi mới. Chắc còn nhiều điều cần được tiếp tục trao đổi. Rất mong nhận được ý kiến của các nhà văn học.

…………………………………………………………………………………………..

(*) Trong bài viết này, chúng tôi dùng khái niệm“văn chương” thay cho “văn học”.