Hiện đại hóa, chưa hết những ngộ nhận

Những năm gần đây, ta nghe nói nhiều đến hiện đại, tính hiện đại. Xây dựng nền văn chương dân tộc như mong muốn không thể không tính đến yếu tố hiện đại. Tìm hiểu nền văn chương dân tộc trong thế kỷ XX vừa khép lại cũng không thể không xem xét quá trình hiện đại hóa. Khi dân tộc đang cùng nhân loại đứng ở điểm giao lịch sử của hai thế kỷ, chừng như cả hai nhu cầu ấy chưa bao giờ lại được nóng lòng đặt ra như bây giờ, nên người ta có bàn nhiều tới các phạm trù trên cũng là phải nhẽ.

Như bất cứ nhận thức nào, ở đây đã xuất hiện nhiều ngộ nhận về tính hiện đại, đưa đến sự thiếu thống nhất, kể cả lệch chuẩn, lệch hướng trong mọi hoạt động nghệ thuật. Tôi thấy cần thẳng thắn nêu ra những vần đề này, mong có được sự trao đổi rộng rãi để có thể dần dà đi tới một tiếng nói chung.

1. Có học giả gắn thời kỳ hiện đại trong văn chương của nước ta và thế giới với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và ý thức hệ tư sản. Quan niệm này hẳn nhiên có cơ sở của nó. Nói gì thì nói, thời hiện đại đối lập với thời trung cổ, bao giờ cũng đi liền với những phát kiến táo bạo, mới mẻ về thực tại, sự phát triển của công nghiệp và thương mại ở trình độ cao, quá trình quốc tế hóa ngày càng rộng rãi, đa chiều đa hướng, đặc biệt là ý thức về vai trò của tài năng và giá trị của cá nhân con người. Trước Cách mạng tháng Mười Nga 1917, sứ mệnh lịch sử đó chỉ đặt trên vai giai cấp tư sản, và trên thực tế, giai cấp này cùng với chế độ mà nó xây dựng, ở những thời kỳ khác nhau, đã có những đóng góp quan trọng, thậm chí quyết định vào tiến trình hiện đại hóa mọi phương diện của đời sống xã hội của nhân loại, trong đó có văn chương, nghệ thuật. Tuy nhiên, tình hình có khác đi khi xuất hiện hệ thống xã hội chủ nghĩa và ý thức hệ của giai cấp công nhân cách mạng trong lịch sử loài người. Từ đây, giai cấp tư sản không còn giữ vai trò độc tôn nữa. Hai giai cấp, hai hệ thống song song cùng tồn tại cho tới ngày nay, luôn đấu tranh với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, dưới nhiều hình thái và mức độ vô cùng phức tạp. Mỗi phía, tuỳ vào vị thế khách quan, đều tác động đến sự hiện đại hóa trong tư  tưởng, nghệ thuật và học thuật, với ưu thế và hạn chế của mình. Việc chỉ ra có lý có lẽ những ưu thế cùng những hạn chế của từng giai cấp ở từng thời điểm trong thế giới hiện đại vào tiến bộ chung của nhân loại còn là công việc dài lâu của nhiều người và nhiều thế hệ. Ơ đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh rằng, sẽ là phiến diện nếu chỉ gắn tiến trình hiện đại hóa với vai trò của giai cấp tư sản. Quan điểm lịch sử – cụ thể cần luôn được quán triệt trong tư duy và hành động.

2. Sẽ không thể có hiện đại hóa nếu bế quan tỏa cảng. Điều này càng đúng với thời nay, trên mọi lãnh vực, không riêng gì văn chương, nghệ thuật. Nhưng sẽ là thiên lệch nếu chỉ chú tâm tới giao lưu, mở cửa. Tại sao? Một là, yếu tố bên ngoài chỉ phát huy tác dụng khi thống hợp với những nhân tố bên trong. Nói khác đi, hãy từ mình mà đến với người; học cái hay của người trên cơ sở cái mình đã có, cả cái hay và cái dở, cố nhiên. Muốn vậy, cần nghiêm túc đặt ra việc tìm hiểu mình, cho thật đúng, thật đủ, và thật rõ. Riêng trong văn chương, tác động của phê bình, hỗ trợ của nghiên cứu cần được coi trọng là vì thế ! Hai là, không phải cái gì xưa cũng đều cũ, đều lỗi thời. Ngay trong lý lẽ có vẻ “cùn” rằng ông bà mình bao đời đều ăn cơm gạo, nay con cháu vẫn thế, gạo cơm không bao giờ cũ cả, cũng có hạt nhân hợp lý của nó. Chỉ xin nói, ai dám bảo ý nghĩ sau của Kim Trọng là lỗi thời:

             Rắp mong treo ấn từ quan

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha

Ngày nay, nhiều chàng trai còn không dám sống chết vì người mình yêu đến thế đâu đấy! Và rồi nữa, ý nghĩ  của Thúy Kiều sau bao “gió táp mưa sa”, “ ong qua bướm lại” : Chữ trinh còn một chút này. Đấy là tư tưởng rất mới của thiên tài nguyễn Du, cứ gì ở sách nước ngoài Âu Mĩ mới có, ta không tiếp thu là uổng phí nếu không muốn nói là dại dột. Cũng vậy, thật là hiện đại cái quan niệm của Hồ Xuân Hương ẩn chứa trong câu kết bài “Tranh Tố nữ”:

            Còn thú vui kia sao chẳng vẽ?

Trách người thợ vẽ khéo vô tình

Tôi nhớ tới lời bình thấm thía của thầy giáo dạy văn tài hoa Nguyễn Đức Quyền : “Vào thời điểm đó, ngay cả một xã hội văn minh, hạ một ý tưởng như vậy là Xuân Hương đã bước qua một thế kỷ. Với xã hội phong kiến Việt Nam nghẹt thở, khô cứng trong cốt tuỷ đạo đức giả mà lại đòi vẽ “cái thú vui kia” nữa thì Xuân Hương đã bước qua mấy trăm năm!” (Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, Nhiều tác giả, Sở  Giáo dục Nghĩa Bình, 1987, tr.89). Kể ra, từ những dẫn dụ vừa nêu, những ai còn  có tư tưởng sùng ngoại, sính ngoại cũng nên suy nghĩ lại.

3. Tính hiện đại thường gắn liền với cái mới nảy sinh, trong nghệ thuật quen gọi là mode, nhưng oái oăm thay, trên thực tế, không phải cái mode nào cũng mang tính hiện đại cả. Xin được nhắc lại câu nói của nhà thơ Tố Hữu vào năm 1978: “Sự khó khăn là ở chỗ thế nào là mới? Tôi cho rằng mới là cái gì phát huy bản chất cao hơn, (tôi không nói cao nhất, vì không có cái gì gọi là nhất cả), mãi mãi cao hơn cái bản chất hôm qua và hôm nay của nó” (Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật, Nxb Văn học, 1981, tr.99). Có thể suy ra, cái mới phải sát hợp, và ngày một sát hợp hơn với đặc thù của văn chương và hoạt động văn chương.

          Đã qua lâu rồi cái thời “văn, sử, triết bất phân”, khái niệm “văn” còn hiểu theo nghĩa rộng, dùng để chỉ mọi trước tác tư tưởng, chính trị, học thuật. Cũng đã qua rồi cái thời người ta coi văn chương chỉ là phương tiện, cho dù là phương tiện hữu hiệu của chính trị và đạo đức. Cần thấy, đặc trưng văn chương không chỉ tập trung ở phương thức thể hiện đời sống, biểu hiện tư tưởng trong tác phẩm như nhiều người quen nghĩ, mà nó thấm nhuần trong cả chức năng và đối tượng, hình thức và nội dung, sáng tác và tiếp nhận. Ta chỉ chấp nhận cái mới đi liền với nét riêng của văn chương, mọi cái xa lạ, lạc lõng với những gì đích thực là chất văn đều cần nên tránh. Được vậy, ta mới thật sự làm chủ nghề nghiệp của mình. Thật ái ngại cho những ai chưa có hoặc còn thiếu năng lực này. Đứng trước nhiều trào lưu văn chương, cái nào cũng có vẻ mê hoặc cuốn hút cả, đã có không ít người hoa mắt ù tai, nỗi ái ngại là có cơ sở, không quá khe khắt và quá cẩn trọng như một số người lớn tiếng trách cứ đâu.

Vậy là, ai cũng muốn thúc đẩy nhanh chóng, hiệu quả quá trình hiện đại hoá văn chương, nhưng trở ngại là to lớn và có thật. Xin hãy cùng nhau bàn bạc cho thông tỏ về nhận thức, trước khi bắt tay vào hành động. Đó chính là ý nguyện của người viết bài này.

                                      Đà Lạt, ngày 15/10 /2001