Danh vọng, cần hay không cần?

Cũng có người lên tiếng hoàn toàn phủ nhận danh vọng. Hoặc người đó là tiên (đã là tiên thì chỉ đáng trọng chứ không đáng phục), hoặc người đó dối mình dối người (không thật thì khó chiếm được lòng tin của người khác). Phải thừa nhận rằng danh vọng luôn tồn tại trong đời thật, thường xuyên đối mặt với con người. Vấn đề là cần điều tiết nó ra sao để phát huy mặt lợi, hạn chế mặt bất lợi, tạo ra động lực thực tế cho mọi hoạt động của con người trong đó có hoạt động sáng tạo của nhà văn. Không ít trường hợp, nhất là đối với các cây bút trẻ mới bước vào nghề, mặt tốt của danh vọng đã tiếp sức cho ngòi bút của họ, giúp họ gặt hái được những thành công ban đầu vốn đặc biệt có ý nghĩa cho những chặng đường kế theo của nghiệp văn chương.

Vậy ta không phê phán danh vọng nói chung. Có chăng ta chỉ không đồng tình với những ai theo đuổi hư danh, danh không đi liền với thực. Nhà thơ quá cố Chế Lan Viên khuyên: “Chớ hư danh!” (Nghĩ về thơ ca). Xa hơn, ở thế kỷ trước, nhà thơ Nguyễn Khuyến chế nhạo “Tiến sĩ giấy” vì:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Hữu danh vô thực thật có hại cho người, cho đời. Còn danh đi liển với thực, danh xứng đáng với thực thì lại là một may mắn lớn cho bản thân và cho xã hội. Ta cũng không đồng tình với những người suốt đời theo đuổi danh vọng, coi danh vọng là mục đích hơn thế là mục đích tối thượng của đời mình. Sinh thời, Hồ Chí Minh nói với các nghệ sĩ: “Có người chỉ muốn làm cái gì để “lưu danh thiên cổ”. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn”. Người còn chỉ rõ: “Những khiếm khuyết đó đều do chủ nghĩa cá nhân đề ra” (1). Khi coi danh vọng là cứu cánh, những người này bất chấp tất cả, đánh đổi bằng mọi giá để đạt được nó. Cũng như quyền lực và tiền tài, danh vọng có sức hút thật kinh người. Đã sa vào bả lợi danh thì rất khó tìm được lối ra. Con người cứ đánh mất mình dần đi. Hàng ngày, hàng tháng hàng năm,.... Và hậu quả khó lòng mà ngờ hết. Xin hãy ghi nhớ lời căn dặn của văn hào M. Gorki. Với giọng văn có phần hài hước. ông viết: “Cần phải loan báo cho các bạn mới vào nghề biết rằng danh vọng là một thứ nước có màu đùng đục, có một vị chua chua và nếu uống vào nhiều thì sẽ có tác dụng xấu với những hệ thần kinh yếu, gây nên ở người uống một trạng thái say sưa nặng nề giống như “say bia”. Khi uống thứ nước này phải thận trọng, một năm không quá một thìa cà phê, uống quá liều lượng sẽ sinh chứng thừa chất mỡ ở tim, chứng sưng bộ phận tự ái, chứng viêm tuyến hách dịch, tuyến tự cao, tuyến hẹp hòi mà nói chung là đủ thứ méo mó bệnh tật” (2).

Tệ hại của thói hám danh thật không kể xiết. Tuy ta cần phân biệt lòng ham danh vọng với khát khao vươn tới chiếm những đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật. Với các nhà văn tài năng, ý nguyện này là không cùng. Đã có nhà văn danh tiếng từng tuyên bố: khi cầm bút trước mặt ông không có Banzăc, Tôlxtôi... nào hết. Lại có nhà văn, tiếng tăm cũng không kém, yêu cầu rất có lý: Nếu kêu gọi nhau hãy viết như Puskin, như Maia thì nhiều lắm chỉ tạo ra một Puskin khác, một Maia khác, chứ không thể tạo ra những tài năng mới. Mong muốn viết ra những tác phẩm nghệ thuật độc đáo có giá trị lớn là chính đáng. Nhưng đây chỉ là lúc dụng bút, Còn bình thường thì các nhà văn này là những tấm gương sáng trong việc học tập, trau dồi nghề nghiệp. Họ học hỏi bất cứ ai, bất cứ điều gì để bồi dưỡng bản lĩnh sáng tạo của riêng mình. Nghề văn khắc nghiệt là vậy! Đến thì nhiều mà ở lại, ở lại một cách xứng đáng có bao lăm. Phạm Văn Đồng từng nhắc nhở người nghệ sĩ: “Thời gian thì hữu hạn, mà nghệ thuật thì vô cùng”. Đừng có lạ khi những cảm giác của những nhà văn thực thụ về những gì mình đã viết ra là cảm giác không mấy hài lòng. “Tác phẩm lớn nhất là tác phẩm chưa được viết ra”, bao giờ họ cũng trả lời tương tự như vậy khi được hỏi về những tác phẩm thành công nhất của mình. Cũng dễ hiểu! Sớm thỏa mãn. Đó là dấu hiệu nổi bật của sự chững lại nếu không muốn nói là sự suy thoái, tàn tà, nhất là đối với nhà văn.

                                                                                                       Đà Lạt, ngày 26-2-1993