Cảm thông ư? Có nhà văn nào không cần

        Mỗi tác phẩm văn chương có một sinh mệnh riêng. Thẩm định chúng cho thật xác đáng qủa không mấy dễ dàng. Sự am hiểu tường tận cuộc đời và con người nhà văn nhất là có dịp tiếp xúc trực tiếp với nhà văn cùng thời có làm giảm bớt phần nào những khó khăn trong việc tìm hiểu sự  nghiệp văn chương của họ. Vì có lẽ không một hoạt động nào của con người mà dấu ấn của cá nhân để lại sâu đậm trên thành phẩm sáng tạo như hoạt động nghệ thuật. Tuy nhiên, sự gần gũi trong quan hệ với nhà văn cũng có điều bất lợi. Con người thật của nhà văn nhiều khi cản trở tới việc đánh giá văn nghiệp của họ. Phải thừa nhận tâm lý trọng xa khinh gần, quý xưa rẻ nay là có thật. Cần vượt qua tâm lý này để hiểu đúng nhà văn và đi tới cảm thông với con người, cuộc đời và sự nghiệp của họ. Chỉ có cảm thông, cảm thông chân thành và sâu sắc với nhà văn mới có điều kiện tìm hiểu và đánh giá đúng đắn sản phẩm tinh thần của họ.

            Nhà văn là kiểu người đặc biệt, không hoàn toàn xa lạ với người khác nhưng cũng không hẳn giống người khác. Lao động nhà văn tạo nên sự khác biệt này. Không phải là chuyện làm bộ làm tịch, làm duyên làm dáng cho người khác đâu. Cái vẻ kệch cỡm bề ngoài ấy dễ nhận ra lắm. Sự khác biệt bên trong do đòi hỏi của sáng tạo nghệ thuật khởi phát ra bên ngoài một cách tự nhiên. Đôi khi chính sự khác biệt lại là dấu hiệu nổi trội của khiếu văn chương, hơn thế, của tài năng văn chương.

            Có điều, dẫu đặc biệt đến mức nào thì nhà văn cũng là một con người như bao con người khác. Đời họ cũng trải đủ vinh nhục, vui buồn, sướng khổ. Người họ cũng đủ hay dở, tốt xấu, đúng sai. Họ cũng chịu luật đời sau : Nỗi đau thường khó mờ, vết nhơ thường khó tẩy. Thậm chí dư luận thường khe khắt hơn với họ. Chẳng phàn nàn làm gì nếu sự thể không đưa tới những hậu quả đáng phải suy nghĩ. Thói thường, ta dễ tha thứ cho lỗi lầm, sai phạm của người khác, nhưng lại rất khó tha thứ cho lỗi lầm, sai phạm của nhà văn. Quy chế bảo hiểm đối với nghề văn trong thực tế bị thít chặt hơn các nghề khác. Có lẽ do vai trò lớn lao của văn chương, của nghệ thuật đối với cuộc đời tạo ra chăng ?

            Dẫu sao thì cả cái dị biệt lẫn cái tương đồng của nghề văn, của nhà văn so với các nghề khác, so với những người khác cũng đã gây nên những phản ứng không giống nhau. Có người xem thường. Sẽ là tai họa nếu những ai có chức có quyền, có vai trò cầm cân nẩy mực lại thuộc trong số người này. Đáng mừng là phần đông hiểu nhà văn và coi trọng họ. Vì thế mà cuộc đời của nhà văn dù lận đận trần ai đến đâu cũng được ít nhiều đền bù.

            Cái băn khoăn lớn nhất của nhà văn là số phận của mỗi tác phẩm mà họ đã lao tâm khổ trí tạo nên. Có người nói ra, có người không nói ra, nhưng nhà văn nào cũng rất lưu tâm tới những nhận xét về tác phẩm của mình. Ý kiến nhận xét của người lãnh đạo của giới phê bình, cả ý kiến của bạn đọc xa gần nữa. Thường nhà văn không đòi hỏi chỉ khen họ. Có thể chê chứ ! Trên đời làm gì có cái hoàn thiện tới mức không có một vết nhơ. Cái họ yêu cầu, yêu cầu rất cao là phải khen chê xác thực, thành thực. Xác thực để giúp nhà văn nhận ra mình, còn thành thực mới có sức thuyết phục. Đành rằng phê bình thì phải khách quan. Song xin chớ “lạnh lùng”. Nhất là xin đừng ai cho mình cái quyền ban phát chân lý. Phê bình, đặc biệt là phê bình nghệ thuật, rất dễ chủ quan. Cái khó của phê bình nghệ thuật là ở chỗ cần chia sẻ với người sáng tác. Anh không đau nỗi đau sinh nở (người ta quen gọi quá trình sáng tác là sự thai nghén) thì sẽ rất khó tiếp nhận đứa con tinh thần thường được sinh ra trong cơ cực, ngặt nghèo. Đưa ra một đôi nhận xét về tác phẩm thì dễ lắm, quan trọng là những nhận xét ấy hữu ích hay không. Hữu ích với nhà văn và hữu ích với cả nền văn chương dân tộc. Tinh thần cởi mở, dân chủ trong phê bình vốn là không khí lành mạnh tích cực của đời sống văn chương. Giờ đây, khi nền văn chương của chúng ta bước vào giai đoạn trưởng thành thì lối phê bình quy chụp thô bạo ít còn đất để nảy nở. Tuy vậy, mối lo ngại của nhà văn chưa phải đã hết. Và bao giờ nhà văn cũng cần sự cảm thông của giới lãnh đạo và đông đảo bạn đọc.

            Sự nghiệp văn chương nước ta đang đứng trước chân trời cao rộng. Cần giải phóng mọi tiềm năng văn chương vốn có của mỗi người cầm bút. Vượt qua những trở lực không đáng có để đánh giá đúng đắn đóng góp của từng nhà văn trong đội ngũ đông đảo tràn đầy sinh lực sáng tạo của chúng ta có lẽ bao giờ cũng là đòi hỏi của công cuộc đổi mới văn chương.

                                                                                   

                                                                                                                    Đà Lạt, 2-97