Chớ nên sa vào vũng bùn của chủ nghĩa hình thức

Văn chương nước ta đang chuyển mạnh theo xu thế đổi mới được khởi phát từ gần mười năm nay. Nhiều tìm tòi, nhiều sáng tạo đáng trân trọng đã thật sự góp phần làm nên sự đổi thay, đem lại sự sinh động và tươi mới trong đời sống văn chương. Phải thấy đó là những dấu hiệu đáng mừng, chứng tỏ tính cấp thiết và sự đúng đắn của công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, như bất cứ cuộc cách tân nào từng xuất hiện trong lịch sử, có không ít khuynh hướng lệch lạc, kể cả lầm lạc, đã xuất hiện. Đáng chú ý là chủ nghĩa hình thức đang có nguy cơ khuyếch đại ảnh hưởng của mình trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là thơ và lí luận phê bình.

Mọi thứ phát sinh đều có căn nguyên trực tiếp và sâu xa. Vậy vì lẽ gì mà chủ nghĩa hình thức có đất sinh sôi ở nước ta trong những năm sau cuộc kháng chiến? Có thể thấy một thời gian khá dài, do hoàn cảnh đặc biệt, ta quá chú trọng tới nội dung, nhất là nội dung hiện thực, nội dung xã hội của tác phẩm văn chương. Thắng thế của khuynh hướng xã hội học dung tục ở nơi này nơi kia, lúc này lúc khác, là có thật. Không phải chúng ta coi thường các yếu tố hình thức. Đòi hỏi 100% nội dung 100% hình thức mà một thời Phạm Văn Đồng đề xuất thực sự đã là định hướng sáng tác của nhiều nhà văn, nhiều nghệ sĩ. Song, do điều kiện khắc nghiệt của cuộc kháng chiến, tính thời sự có phần lấn át tính vĩnh cửu của văn chương. Thành công của nhiều tác phẩm được lí giải chủ yếu bằng nhiệt tình và ý thức công dân, chất sống và khả năng rung cảm của người cầm bút. Việc trau chuốt câu chữ, đắn đo kết cấu, gia công hình tượng... có nhưng chưa nhiều và cũng có thể nói là chưa đủ. Trong khi sự sáng tạo là vô cùng. Những trang viết để đời vẫn còn nằm xa ở phía trước, vời gọi và thách thức người viết. Giờ đây, thời gian chuyên dành cho sáng tác nhiều hơn. Nhà văn hơn lúc nào hết có điều kiện nghĩ tới tầm xa, tầm cao, tầm sâu của sản phẩm tinh thần đang thai nghén. Cố nhiên, ta đang nói tới thứ lao động nghệ thuật chân chính. Còn thứ  "văn chương thị trường" ăn xổi ở thì lại là chuyện khác. Vì vậy, vấn đề hình thức được đặt ra một cách có ý thức hơn, da diết hơn là chuyện dễ hiểu.

Cũng cần nói tới ảnh hưởng khác nhau của văn chương nước ngoài và văn chương thời trước do không khí đổi mới có điều kiện mở rộng. Bình tâm mà nhìn nhận, thì chưa bao giờ, ngay cả thời chiến tranh ác liệt nhất, chúng ta chủ trương "bế quan tỏa cảng". Ta sớm ý thức được rằng giao lưu, trong đó có giao lưu văn hóa, giao lưu văn chương là điều kiện thiết yếu nếu không muốn nói là điều kiện sống còn để một dân tộc phục hưng trong thời đại ngày nay. Song phải thừa nhận là giờ đây cánh cửa hướng ra phía ngoài rộng mở hơn trước. Đấy là chưa kể kho sách cũ phần nhiều là sách dịch ở miền Nam trước đây được khai thác phục vụ khá rộng rãi cho hầu như mọi đối tượng bạn đọc. Nhiều cây bút, đặc biệt là các cây bút trẻ, "ngấu nghiến" đọc để thỏa sự thèm khát hiểu biết của mình. Mỗi người, tùy khẩu khiếu và sức vóc, đã xử sự không giống nhau đối với những gì bản thân được đọc. Tất nhiên, đó là những chân trời mới lạ. Có người trầm trồ mà không lóa mắt. Lại có người chìm đắm đến ngây ngất không đủ tỉnh táo để phân biệt đâu là hay, đâu là dở, đâu là thật, đâu là giả. Họ không hay biết rằng cũng như ở nhiều lĩnh vực khác, văn chương phương Tây đều ẩn chứa hai mặt cùng một lúc: "Có đêm và có ngày, có vàng và gót sắt, có máu và nước mắt, có sói lang và có những anh hùng" (Tố Hữu). Trong những cái dễ làm hoa mắt người khác có sắc màu kì dị của chủ nghĩa hiện đại phương Tây. Hiển nhiên đó là trào lưu vô cùng đa tạp, trong nhiều cái sai, cái xấu có không ít cái đúng, cái đẹp. Không nên đánh đồng, vơ đũa cả nắm. Với từng nhà văn, từng tác phẩm cũng vậy. Có điều, quan niệm coi kĩ thuật, hình thức là cứu cánh của sự khám phá trong sáng tác được xem là một trong những đặc điểm nổi trội của chủ nghĩa hiện đại thì lại rất cần được chỉ ra và phê phán. Vì đó là nguyên do chính khiến nhiều nhà văn danh tiếng một thời dần dần đi vào ngõ cụt. Phải sáng suốt và bản lĩnh lắm mới mong trưởng thành trong học hỏi người ngoài. Tiếc là trong đội ngũ chúng ta không phải ai cũng có được những phẩm chất tối cần đó để tránh bệnh aids về tinh thần.

Có lẽ sẽ là không thừa khi cùng nhau nhắc lại cái điều hiển nhiên này: Ta đang xây dựng nền văn chương của ta. Học người chủ yếu để làm sáng rõ cái ta, cái bản sắc dân tộc Việt Nam thời nay - thời mở cửa, thời đổi mới, nhằm đưa nước ta đến bến bờ văn minh, hiện đại. Ở đây, đụng chạm phải một thiên hướng khác: Tôn vinh các tác phẩm và các tác giả từng "có vấn đề" trong quá khứ, nhất là văn chương lãng mạn 30 - 45, văn chương thời nhân văn và thời miền Nam bị chiếm đóng. Đúng là có một thời kỳ, có thể nói là khá dài, chúng ta có phần hẹp hòi thậm chí biệt phái khi đánh giá và tiếp nhận các tác phẩm văn chương loại này. Xin nói là đã có đủ lí  do, hơn thế, những lí  do đầy sức thuyết phục để biện minh cho những gì ta đã làm. Và bây giờ cũng vậy, ta có đủ điều kiện để nhìn nhận lại những hiện tượng văn chương từng "có vấn đề", trả chúng về đúng với vị trí và giá trị vốn có của chúng. Thật ra, đây là công việc không mấy dễ dàng. Đã có và sẽ còn có những thiệt thòi, những ngộ nhận không đáng có. Nhưng đánh giá lại không có nghĩa là những tác phẩm và nhà văn này chỉ toàn cái hay, lại càng không có nghĩa đó là những mẫu mực, hơn thế những chuẩn mực cho sự tìm tòi, khám phá hiện nay. Tôi từng nghe một bạn viết văn trẻ tán dương một nhà thơ thời miền Nam trước 1975 là "tân kì" là "hiện đại" rất mực! Riêng với những tác phẩm có khuynh hướng hình thức chủ nghĩa, trước sau, nói gì thì nói, ta không thể chấp nhận. Cần phân biệt hai thái độ: Khuyến khích tìm tòi về hình thức và ngăn ngừa chủ nghĩa hình thức. Cũng cần phân biệt hai loại người: Những người thành tâm mong muốn đổi mới mà bị lầm lạc với những ai cố ý dẫn dắt sáng tác theo những quan điểm mĩ học sai lạc.

Nhìn lại diễn biến của thực tiễn văn chương trong vài năm trở lại đây, bên cạnh cái hay khiến ta vui lòng, vẫn còn nhiều cái dở không thể làm ta yên lòng, thậm chí đau lòng. Chủ nghĩa hình thức đang có nguy cơ hoành hành đặc biệt trong thi ca và lí luận phê bình. Đôi lúc người đọc không khỏi sững sờ vì kinh ngạc bởi có người lên tiếng bênh vực và trong số đó, buồn thay, lại có cả những nhà văn, nhà lí luận phê bình có uy tín. Đã đến lúc nên chấm dứt quan niệm có thể coi là lỗi thời này: Viết gì thì viết trừ phản quốc, phản động và phạm pháp. Cái bệnh hình thức chủ nghĩa tai hại lắm, không kém các "trọng tội" kia đâu. Xin chớ xem thường nó.

Giá trị văn chương xưa nay thật đa dạng và độc đáo. Quy luật sáng tạo là vậy: Không được lặp lại người và lặp lại mình. Tuy nhiên, tôi nghĩ, cái đích sáng tạo thì không đổi và không bao giờ đổi. Đó là những tác phẩm văn chương độc đáo giàu khả năng khám phá hiện thực, mang tầm tư tưởng cao và sức chấn động lớn. Để đạt được mục đích đó, sự tìm tòi hình thức và phương tiện biểu hiện bao giờ cũng cần, và có thể nói là bao nhiêu cũng không đủ, không thừa. Nghệ thuật không chỉ đòi hỏi nói cho đúng, cho sâu mà còn phải nói cho hay, cho hấp dẫn, cho mới lạ. Song tất thẩy là nhằm đạt cho bằng được cái đích chung kia. Nhất là cần lay động, cần truyền cảm. Bởi tình cảm là đặc trưng chủ yếu nổi bật của nghệ thuật. Chất lượng và tầm cao của sáng tạo chủ yếu tùy thuộc ở đây. Nghệ thuật sẽ không tồn tại trong giá băng của nghệ sĩ và công chúng. Cũng không thể nói tới tầm cao của giá trị nếu người thưởng thức phần nào lạnh nhạt, thờ ơ. Trong khi càng quá chú tâm tới chải chuốt hình thức thì càng dễ rơi vào giả tạo. Những tác phẩm loại ấy tồn tại sẽ chẳng được bao lâu.

Vài năm lại đây đã xuất hiện những bài thơ, những tập thơ ưa đổi giọng cho lạ, cho điệu và cho kêu. Họ lầm tưởng đó là "cách tân" là "sáng tạo". Cũng có đôi bài lí luận lên tiếng đề cao chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu, phê bình văn chương. Tôi nghĩ, trong từng trường hợp cụ thể ta có thể vận dụng có giới hạn chủ nghĩa cấu trúc để phân tích tác phẩm. Nhưng coi là chìa khóa vạn năng thì không thể. Ngay xu hướng tuyệt đối hóa vai trò của thi pháp học cũng không đúng. Ngoài cái "ưu", thi pháp học cũng có cái "nhược". Nên kết hợp thi pháp học với các cách tiếp cận khác kể cả những cách tiếp cận truyền thống mới mong cảm hiểu được tác phẩm văn chương - một đối tượng vốn có sinh mệnh, và sự sống riêng. Có như vậy, ta mới không sa vào vũng bùn của chủ nghĩa hình thức. Đó có lẽ là mong mỏi của tất thảy những ai đang dồn tâm dồn sức cho công cuộc phục hưng dân tộc trên lĩnh vực văn chương, nghệ thuật.

                                                                                                                    Dalat, ngày 10.7.1994