Vài kết luận

Người xưa vậy là đã bàn đến hầu hết các vấn đề của thơ, từ nội dung đến hình thức, từ chủ thể đến khách thể, từ bản chất thơ đến việc bình thơ. Nhiều vấn đề đã được các danh nho cũng như hàn sỹ, hữu danh cũng như vô danh giải quyết khá thấu đáo, đi gần với quan niệm thi ca tiến bộ của nhân loại và quan niệm thi ca hiện đại của dân tộc. Từ tất cả những gì đã được phân tích, biện giải chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định: Đã tồn tại trong quá khứ một nền thi luận cổ Việt Nam.

Ở đây tồn tại một thực tế gồm hai mặt: ảnh hưởng sâu đậm của lý luận thơ cổ Trung Hoa tới Việt Nam và ý thức độc lập, sáng tạo trong tư duy thi ca của các thi nhân học giả nước ta thời trước. Đó là một thực tế không riêng đối với nước ta, mà cũng không riêng trong lĩnh vực văn chương, học thuật, bởi (theo cách nói của Trương Tái đời Tống) muôn vật “nhất lý” nhưng “phận thù”. Muốn thành công cần vận dụng cái của người vào hoàn cảnh của mình. Phương châm hành động của người Trung Quốc là vừa “Tây dụng” vừa “trung thể”, của người Triều Tiên là vừa “Tây khí” vừa “Đông đạo”, của người Nhật Bản là vùa “dương tài” vừa “hòa hồn”. Có lẽ đây là chiếc chìa khóa thần giúp các nước đồng văn này có được những bước tiến nhảy vọt tiếp cận đến văn minh hiện đại chăng?

Vì vậy, có thể khẳng định: giao lưu, hòa hợp là quy luật phát triển của bất cứ nền văn hóa nào, không loại trừ ngay cả những nền văn hóa có lịch sử lâu đời và đạt được những thành tựu rực rỡ. Theo I. S. Lisêvich, trong thực tế lịch sử nhân loại, không có nền văn minh phát triển nào lại chối từ việc tiếp nhận. Ngay văn hóa Trung Hoa, một nền văn hóa đóng vai trò hạt nhân trong vùng văn hóa Viễn Đông rộng lớn cũng không nằm ngoài thực tế này. Thời cổ đại, văn hóa Trung Hoa rõ ràng chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phương Nam. Sang thời trung đại, văn hóa Trung Quốc đã có ít nhất ba quá trình tích hợp văn hóa với các bộ tộc phương Nam từ thời Lục Triều, với người Nguyên, người Thanh và với phương Tây từ thế kỷ XVIII [35]. Từ đó, chúng tôi tán đồng với ý kiến của GS Lê Đình Kỵ: “Do điều kiện lịch sử một nghìn năm Bắc thuộc, cha ông ta không tránh khỏi chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và học thuật Trung Hoa... Điều đáng tự hào là mặc dầu bị áp bức nặng nề từ phương Bắc, dân tộc ta đã không chịu để cho bị đồng hóa, vẫn nêu cao tinh thần độc lập tự chủ trong chính trị cũng như trong đời sống tinh thần nói chung” [30, 350].

Vậy là đã tồn tại trên thực tế một nền lý luận thi ca độc đáo, phong phú và quý giá trong thời trung đại ở Việt Nam, và nền thi học đó “cũng có tầm cỡ như bất cứ nền thi học của nước nào, nếu ta biết khai thác những cái được giấu kín trong đó” (Đỗ Văn Hỷ) [18, 93].

Trong việc “khai thác” di sản lý luận thi ca quá khứ, công lao đầu thuộc về những nhà Hán Nôm học Việt Nam hiện đại đã không quản bao khó khăn tham gia vào công cuộc sưu tầm, biên dịch, hiệu đính, chú giải các văn bản cổ. Cho tới giờ, nguồn tư liệu giúp cho việc tìm hiểu quan niệm thi ca Việt Nam thời trung đại mặc dầu có thể chưa thật tập trung, phong phú và đa dạng nhưng thật đáng kể và nhất là có đủ cơ sở cho việc khái quát nhiều vấn đề lý luận chung cũng như việc đào sâu nhiều vấn đề lý luận cụ thể. Chúng tôi hy vọng các nhà Hán Nôm học uyên bác, giàu kinh nghiệm và tâm huyết sẽ tiếp tục dồn thời gian và công sức vào công việc phát hiện và chỉnh lý nguồn tư liệu cổ, giúp đẩy nhanh việc nghiên cứu di sản lý luận văn chương trung đại sang một giai đoạn mới với những thành tựu lớn hơn.

Từ những gì đã được trình bày, chúng tôi xin được rút ra một số điểm bao quát sau đây:

-     Các thi nhân, học giả xưa rõ ràng không có ý định “lập thuyết”. Những ý kiến bàn về thơ của họ, hoặc mang tính tức thời nhân bàn về một tập thơ hay một tuyển thơ sắp ra mắt hoặc mang tính gián tiếp nhân bàn về thế đạo nhân tâm hay về “văn” nói chung. Nhưng từ đó, có thể rút ra nhiều điều có giá trị phổ quát, lâu dài mang tính đặc thù thể loại sâu sắc chung quanh những vấn đề lý luận thi ca cơ bản như: chủ thể và sản phẩm sáng tạo, nội dung và hính thức tác phẩm, bàn thể và tiếp nhận thi ca...

-     Những bàn luận về thơ thời trước thường là tiếng nói “gan ruột” của những nhà sáng tác. Đó là kết quả của quá trình suy ngẫm và thể nghiệm dài lậu của những người không chỉ am hiểu mà còn yêu thích thi ca, không chỉ biết nói mà còn biết làm (thường làm nhiều hơn nói và khi không thể không lên tiếng thì nói ít và nói ngắn). Do vậy, ý kiến của họ mang những đặc điểm riêng tạo nên sức cuốn hút riêng, đặc biệt thấm thía và sâu sắc.

-     Một trong những đặc điểm nổi bật của những lời bàn về thơ của các học giả, thi nhân thời trước là tính thẳng thắn và chân thực. Họ thường khiêm nhường giãi bày những suy nghĩ, đúng hơn là những cảm nghĩ về thơ, mong tìm gặp sự đồng điệu của bậc tri âm, tri kỷ. Rất ít xảy ra tranh luận. Mà nếu có tranh luận về học thuật thì cũng không mấy gay gắt. Họ thường bình tâm trình bày những kiến giải của bản thân, không có ý áp đặt mà lấy sự thuyết phục người đối thoại làm mục đích chính.

-     Những ý kiến bàn về thơ của người xưa bắt nguồn từ vốn đời, vốn đọc, vốn học được tích lũy thường xuyên và không biết mệt mỏi. Nhiều thi nhân học giả thời trước đã hấp thụ được những hiểu biết cao nhất mà thợi đại họ cho phép. Dựa trên cơ sỡ của vốn tri thức mang tính bách khoa, lý luận thi ca cổ đồng thời là bộ phận quý giá của vốn tri thức ấy, cốn tri thức được ông cha ta kiên trì thấu thái trong những năm tháng đầy khó khăn, thử thách không chỉ đối với số phận của dân tộc mà còn đối với cuộc đời của mỗi con người, không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần. Tri thức về văn chương, về thi ca nhiều lần đáng quý hơn còn bởi lẽ đó.

-     Là một bộ phận của tư tưởng, quan niệm thi ca cổ đồng thời gắn bó mật thiết với những hình thái tư tưởng khác của người xưa: tư tưởng chính trị, tư tưởng triết học, tư tưởng đạo đức, tư tưởng học thuật... Trong mối  quan hệ này, quan niệm thi ca vừa chịu ảnh hưởng vừa tác động trở lại những quan niệm khác ở cả hai phía tích cực và tiêu cực. Trên cơ sở phân tích, lý giải đúng đắn những mặt tinh hoa đáng trân trọng cùng những mặt hạn chế đáng phê phán, chúng ta sẽ có thái độ phù hợp trong việc tiếp nhận di sản lý luận thi ca trong quá khứ của ông cha.

-     Những tinh hoa của quan niệm thơ cổ Việt Nam là một trong những đóng góp độcđáo của nền học thuật và tư tưởng dân tộc vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại. Tất nhiên ở đây có không ít điều mà GS Đỗ Văn Hỷ gọi là sự “ngẫu hợp”, nghĩa là sự gặp gỡ tự nhiên của những bộ óc lớn thuộc mọi thời đại ở mọi phương diện. Bởi vì nhận thức của con người có thể rất khác nhau về cách thức song về mục đích và bản chất cơ bản là gần gủi nhau. Điều này phù hợp với nhận thức của tác giả “Liêu thi thoại”: “Bế môn tạo xa, xuất môn hợp quỹ” (đóng cửa tạo xe, ra cửa vừa đường) [18, 4].

Quan niệm thi ca cổ Việt Nam là một bộ phận then chốt của quan niệm văn chương, rộng ra là quan niệm mỹ học của dân tộc ta thời trung đại. Nắm được lý luận thơ ngày xưa, chúng ta mới có điều kiện hiểu đúng cái hay, cái đẹp của thơ trong quá khứ, mới đánh giá đúng di sản thi ca thời trước. Lý luận thơ xưa đồng thời là một trong những căn cứ để hiện đại hóa thơ Việt Nam hôm nay. Việc tìm hiểu quan niệm thơ thời trung đại sẽ giúp chúng ta từng bước lấp bằng chỗ trống trong lý luận thơ nói riêng, trong lý luận văn chương nói chung, nhắm xây dựng một nền lý luận văn chương hiện đại – dân tộc.

Chúng tôi luôn ý thức sâu sắc rằng: Nghiên cứu quan niệm thơ cổ Việt Nam là công việc nặng nhọc và lâu dài của nhiều người, nhiều thế hệ. Do điều kiện và khả năng có hạn, chúng tôi mới đi vào một vài vấn đề chung, khó tránh khỏi sơ sài và hạn hẹp. Chúng tôi mong mỏi các nhà nghiên cứu tiếp tục mở rộng, đào sâu để việc tìm hiểu di sản lý luận thi ca cổ của dân tộc đạt được những thành tựu mới, lớn hơn nhiều.