Vai trò của lời thơ

Thơ hay không thể thiếu lời hay, vì vậy người xưa rất trọng lời trong thơ. Lời cố nhiên cần cho cả sử, cả triết. Tác phẩm khoa học cũng lấy ngôn từ làm công cụ diễn đạt tư duy nên sức mạnh của ngôn từ cũng có một ý nghĩa nhất định. Trong mục Thư tịch (Điều 24), Lê Quý Đôn từng so sánh lời của quân tử với lời của Khổng Tử: “Lời nói của Thánh nhân (chỉ Khổng Tử) thì bằng phẳng. Còn Tuân Tử nói: “Hữu trị nhân, vô trị pháp”... thì thấy hào khích quá (nghĩa là hăng hái, gay gắt, có giọng kẻ cả quá)”.

Tuy nhiên, lời với văn chương nhất là với thi ca lại quan trọng hơn nhiều. Lời cần “đắc địa”, không chỉ đúng mà còn hay. Bùi Ngọc Quỹ bộc bạch: “Khó nhất trong ngôn ngữ vẫn là lời thơ” [17, 43]. Vậy nên, theo ông, thi nhân phải dụng công rất nhiều, trau chuốt rất nhiều để luyện nên “thần cú”, “thần tự”: “Hàng râu nhổ hết, để tìm một chữ đúng nơi” [17, 41]. Người đọc thơ vừa đi tìm “ý đẹp” vừa đi tìm “lời hay”. Thưởng thơ, Nguyễn Thứ Phủ khen: “Lời thơ lại rực rỡ như hoa xuân” [17, 127]. Lê Quý Đôn thì nhận xét bài thơ của Lê Đại Hành làm lúc tiễn sứ nhà Tống Lý Giác có “lời rất đẹp” [41, 85]. Còn với Miên Thẩm, “tiếng thơ hay” không thể không bao hàm “lời sắc nhọn lóe ánh sáng” [17, 81].

Đề cao vai trò của ngôn từ trong văn chương và nói nói riêng trong thi ca có ý nghĩa phổ biến trong lý luận thời trước ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Đọc bất kỳ một công trình lý luận văn chương nào ta cũng có thể bắt gặp tính thiêng liêng, tính mạnh mẽ của từ khi được dùng khéo léo. Có một câu nói nổi tiếng trong kinh Phúc Âm: “Ngôn ngữ đã có trong sự khởi đầu”. Ở Trung Hoa, theo P. Grinstep, “hoa văn của lời” tái tạo “hoa văn của trời” [61]. Vì vậy, khái niệm văn chương (nhất là thi ca) được hiểu như một thứ lời nói đặc biệt có ngôn luật, có nhịp điệu, nói khác đi, như một thứ nghệ thuật của ngôn từ. Nhà nghiên cứu Anđrômênhid viết: “sự hoàn thiện ngôn từ một cách chu đáo thích hợp với các nhà thơ hơn cả” [62, 191]. Từ đây, trong quan niệm của thời cổ, tài năng sáng tạo thi ca đi liền với tài nghệ sử dụng ngôn từ. Trong tay nhà thơ, ngôn từ như được tái sinh, linh hoạt và uyển chuyển: “Ở trong phép tắc, nhưng nó lại phải siêu thoát ra ngoài sự vật, mẫu mực mà không gò ép, giản phác mà không buông tuồng” (Phạm Đình Hồ) [17, 35]. Đó là thứ ngôn từ vừa gẫn gũi vừa khác lạ với ngôn ngữ thường ngày. Nói một cách khác, nó được nâng cao hơn, được kết tinh thành “lời thơ tuyệt diệu” (Bùi Ngọc Quỹ). Đúng như ý kiến sau của Cao Bá Quát: “Lời nói thì bi tráng, văn viết thì trầm hùng, nhiều cái đó khác nào như bụi bặm, cám bã mà đem hun đúc thành gạch ngói” [41, 150]. Từ đất cát thành gạch ngói, quá trình và công sức “hun đúc” đâu có dễ và ít. Và giá trị cao thấp của thành phẩm tùy thuộc vào công sức nhiều ít đã bỏ ra.

Một vấn đề hệ trọng khi tìn hiểu quan niệm của người xưa là yêu cầu về tính bình dị của ngôn từ thi ca. “Dĩ tự nhiên chi vi mỹ” (Coi tự nhiên là đẹp). Thơ không nên cầu kỳ, khó hiểu. Ngô Thế Vinh đòi hỏi: “Nghĩa tự hình chính, hà tất phải kín, văn cần ôn nhã, hà tất phải sâu” [17, 217]. Đúng là: “Giản vị văn chương tận cảnh” (Lưu Đại Khôi) [27, 178]. Lê Quý Đôn thì giải thích câu “từ đạt nhi dĩ hĩ” của Khổng Tử là: “Văn từ cần đạt mà thôi. Đạt nghĩa là bình dị (dễ hiểu)”. Theo Lê Quý Đôn, văn chương trở thành mẫu mực, cổ điển bao giờ cũng giản dị. Trích sách “Giải nan”: “Món ăn quý ban giờ cũng đạm; thưa âm lớn bao giờ cũng thưa”, ông kèm theo lời bình: “Lời nói ấy rất phải” [4, 36].

Nhưng thế nào là “giản dị”? Với người xưa giản dị không cùng nghĩa với sơ sài, giản lược. Cuộc đời vốn muôn màu muôn vẻ. Phải thể hiện đến “độ” nào đó mới được coi là đủ là đầy. Nhữ Bá Sỹ viết: “Điều nên giản lược, dù một lời mà bao quát trăm nghìn dặm cũng không ngại là thừa, điều nên rõ ràng, dù một việc mà chục câu không không hiềm là rộng” [17, 151]. Nói như Nguyễn Đức Đạt: “Gọn nhưng không hổng, rườm nhưng không tắc” [41, 172]. Giản dị vậy còn bào hàm chữ “tinh” của sự điêu luyện bậc thầy. Trong Điều 8 (Văn nghệ), Lê Quý Đôn có dẫn lời của Tô Đông Pha: “Ý hết mà lời văn hết (nghĩa là lời cô đúc và súc tích)” và lời mở rộng thật chí lý của bản thân: “Nhưng nếu lời văn hết mà ý vẫn chưa hết (nghĩa là hàm súc, dư ba) thì lại càng là một bậc cao siêu hơn nữa” (theo sách dịch của Trần Thanh Mại). Giản dị không hề đồng nhất với đơn giản. Có gì giản dị hơn ánh sáng, nhưng trong quang phổ nó lại ánh lên bảy sắc màu huyền diệu. Vậy nên, “sự thuần phát là điều hiếm thấy” (Lâm Ngữ Đường). Hay nói như Mai Nghiêu Thần đời Tống: “Duy tạo bình đạm nan” [27, 91].

Đề cao tính phác thực của ngôn từ, người xưa xa lạ với thói cầu kỳ, bí hiểm, vì đó chỉ là nơi trú ngụ của những kẻ bất lực do trống rỗng. do hời hợt. Nguyễn Văn Siêu có lẽ là người đã tỏ thái độ gay gắt nhất đối với hạng người này. Ông viết: “Lại có kẻ tự biết mình không đủ làm cho người phục, bèn tạo ra lối văn kỳ lạ, bí hiểm, quái dị, khác thường, che đậy vốn học hỏi qua loa, thiển cận của mình” (Tạp chí Văn học, Số 4/1976, tr. 147). Trần Bá Kiên cũng từng chê “thơ khuê oán” đã “cố tình làm ra sự trúc trắc khó hiểu” [17, 60]. Thi ca khó là vậy. Người viết không thể không gia công, trau chuốt ngôn từ cho thật đẹp, thật sáng, thật sắc. Nhưng ngôn từ nghệ thuật lại phải thật tự nhiên như được “nói ra” không hề có dấu vết của bàn tay đẽo gọt. Người tài năng không rơi vào thô thiển lại cũng ko vướng vào cầu kỳ. Đúng là “cái khổ nhất của nhà thơ đâu phải chỉ là cách luật mà thôi” (Ngô Thì Sỹ) [36, 18]. Do vậy, ý của Mạnh Tử mà Miên Trinh nhắc lại có lẽ luôn là bài học bổ ích cho ng1 làm thơ ở bất cứ thời nào: “Chớ đem văn hại lời, chớ đem lời hại ý” [17, 219]. Ấy là bởi, thơ hướng tới nhiều mục đích cao quý. Theo Ngô Thì Nhậm, ngoài việc “giữ tâm có phép tắc”, thơ còn giúp con người “nói lời có văn chương” [17, 31]. Để đạt mục đích ấy, lời thơ phải hay, phải cuốn hút.