Vẻ đẹp của lời thơ

Người xưa thường nói “thi trung hữu nhạc”. “Thi” gắn liền với “ca” tự trong căn nguyên khởi phát. Trong sách “Thượng thư” mục “Nghiên điểu” (theo Quách Mạt Nhược thì ra đời vào thời Chiến Quốc) có ghi rõ: “Thi ngôn chí, ca vĩnh ngôn, thanh y vĩnh, luật hòa thanh” (thơ để bày tỏ chí hướng, được hát lên là để ngâm vịnh tấm lòng, thanh điệu nhờ vào ngâm vịnh mà bổng trầm đứt nối, vần luật khiến cho thanh điệu thống nhất hài hòa) [27, 364]. Ở ta, Phạm Đình Hổ viết: “Nguồn gốc của thơ xuất phát từ ca từ, nguồn gốc của ca từ xuất phát từ thơ, đó là nguyên ủy, hỗ tương của chúng” [17, 34]. Trong “Cẩm nang văn tập”, một tác giả vô danh cũng viết: “Dù thơ ca vốn không phải là thể của nhạc, nhưng tìm sự hình thành của nhạc, không gì gần hơn thơ ca” [17, 165].

Do vậy lời nhạc hay thường giàu chất thơ, còn lời thơ hay lại giàu tính nhạc. Nói như Miên Trinh: “Lời nhạc là dòng dõi của thơ, lời thơ là họ hàng của nhạc” [17, 239]. Tính “hợp điệu” của thơ sao cho dễ ngâm nga, dễ thuận tai luôn là đòi hỏi của người thưởng ngoạn, phê bình. Phạm Nguyễn Du đọc thơ của Bùi Huy Bích đã cảm nhận được toàn bộ sự “ngân vang, khiến người đánh nhịp” [17, 107]. Yêu cầu nhạc điệu không giảm ngay đối với bản dịch thơ. Phạm Đình Hồ nhận xét về bản dịch “Tỳ bà hành” của Cao Tử Văn Nhi: “Thanh thoát, sống động, uyển chuyển, có thể lọt tai người” [17, 35]. Một tài thơ được ngưỡng mộ, một tập thơ được truyền tụng không thể thiếu “vần điệu réo rắt” làm say cuốn lòng người.

Một đặc điểm nổi trội khác của lời thơ là tính hình tượng. “Thi trung hữu họa” đi cũng với “thi trung hữu nhạc” trong quan niệm của cổ nhân. Bức họa giá trị bao giờ cũng sống động. Miên Thẩm nhìn hình vẽ con hổ trên lầu chùa Linh Sơn sinh động đến mức: Nơi ngồi thoảng thấy con hổ đang chồm tới/ Hai mắt trừng trừng như hai chiếc gương [17, 77].

Bài thơ hay cũng phải thật giàu hình ảnh. “Vạn tượng sinh hào đoan” (Trần Thái Tông). Nhữ Bá Sỹ yêu cầu nhà thơ phải “đóng mở biến hóa” thế nào để “tinh thần ý thái của phong vật núi sông nơi muôn dặm, nhảy múa trên tờ giấy” [17, 151]. Cái chí lý là ở chỗ, ông chú trọng tới sự “nhảy múa” của “tinh thần ý thái” cảnh vật. Hiện thực đi vào thi ca có tính khái quát “thấu suốt tim trời”, “thâu gọn trục đất” (lời Hồng Nhậm). Muốn vậy, cũng theo Hồng Nhậm “một câu nói đủ trăm ý tứ” [17, 95]. Nguyễn Tử Thành viết hình ảnh hơn: “Thập thúy, thu hồng, quy bút để”. Đây là đạo chung của nghệ thuật trong đó có thhơ và họa. Một bức vẽ được gọi là kiệt tác, theo Miên Thẩm, cũng phải làm sao: “Chỉ một thước lụa mà thu hết nghìn dặm núi khe” [17, 79]. Nói khác đi, phải nắm bắt được cái “thần” của hiện thực. Cái “thần” này chỉ phát lộ ra trong con mắt những người thấy nhiều, biết nhiều đến mức “chỉ nếm một miếng thịt, cũng đủ biết mùi của nó” (Miên Trinh) [36, 238]. Đọc thơ của các bậc thi Tiên, thi Thánh thì rõ. Nhậc xét về thơ cận thể đời Đường, Lê Hữu Kiểu viết: “Tự sự, mô tả đường nét bên ngoài mà nổi lên cái thần, nói một câu có thể tỏ được trăm ý, xem kỹ lưỡng có thể biết được muôn cảnh” [41, 55].

Một trong những lý do tồn tại của thi ca là ở chỗ nó nâng cao nhận thức của con người nhờ sự chung đúc, kết tinh hiện thực. Người làm thơ, làm văn cần “ăn hoa hút nhụy” để viết thành tác phẩm. Lao động của người nghệ sĩ không giống con kiến, cứ bệ nguyên xi đất cát của hiện thực về làm tồ. Cần phát hiện ra “cái đặc thù” để tô đậm, để nhấn mạnh. Cái lớn hay cái nhỏ trong thơ đều không nằm ngoài quy luật sáng tạo chung ấy. Ngô Thế Vinh viết: “Ví như lấy tên đất vào thơ ắt phải lấy cái đặc thù của nó” [17, 147].

Mọi chi tiết đưa vào tác phẩm đều được chọn lựa kỹ càng để long lanh sắc màu, lung linh ánh sáng, sao có thể túy hứng, tùy tiện cho được. Muốn thế thi nhân phải giàu tưởng tượng nghệ thuật: “Còn phải nâng sự tưởng tượng tới chỗ cao xa” (Ninh Tốn) [17, 28]. Theo nghĩa Latin, thi sĩ là “Vates”, tức là một người có khả năng tiên tri và thấu thị đặc biệt.

Thế nào là tưởng tượng trong thơ? Trần Cao Đệ viết: “Nhân cái này để hình dung cái kia, không ngại đụng chạm với tương tự mà từ cái này suy ra cái kia” [17, 233]. Hình thái cơ bản của tưởng tượng là liên tưởng. Mọi vật đều có cái lý chung. Trong cái nhỏ của một vật có cái lớn của một loài. Vậy mối liên hệ của muôn vật, muôn loài là hiển nhiên. Người làm thơ giỏi là người phong giật “ngồi một nơi mà sai khiến được muôn cảnh” (Hồng Nhậm), có thể “vượt lên trên nghìn xưa” và “gửi gắm ngoài mây khói” (Ngô Thì Nhậm). Trí óc của người làm thơ tung hoành trong không gian và thời gian, ít chịu sự gò bó trong một khuôn khổ nhất định. Xích gần những việc, những hiện tượng ở những địa điểm và vào những thời điểm khác nhau bằng những cái tương tự đã thật sự tạo ra hứng thú thẩm mỹ không nhỏ. Nguyễn Trãi viết: Có thuở biếng thăm bạn cũ/ Lòng thơ nghìn dặm nguyệt ba canh (Bảo kính cảnh giới) [32].

Chỉ có những tài năng thi ca hơn người mới làm nổi. Cao Bá Quát từng khen tác giả “Yên đài anh ngữ”: “Ở quanh cái võng ba thước... lại thấy cảnh sông núi trùng trùng điệp điệp” [41, 156].

Tưởng tượng trong quan niệm của người xưa còn là khả năng “thêm thắt” những gì còn thiếu trong đời thực. Không phải mọi điều diễn ra trong thi ca đều “xác thực” theo nghĩa nhìn thấy, nghe thấy được. Ở đây, cuộc đối thoại trong mơ giữa Vũ Duy Thanh với Đào Tiềm rất có ý nghãi mỹ học [17, 154]. Học giả họ Vũ gạn hỏi thi sĩ họ Đào: “Bọn hậu sinh thường ngày luôn lưu ý tới văn tự của tiên sinh... nhưng (một số bài) vẫn bàn bạc xôn xao, chưa từng được giải đáp, mong tiên sinh, hãy khai thông bế tắc cho mọi người”. Nghe vậy, Đào Tiềm “cả cười” nói: “Tôi thường ngày đọc sách không bao giờ đi tới chỗ hiểu nó tới cùng, làm văn cũng vậy, đó là cái sáo của văn chương, ông chả cần hỏi”. Tuy nhiên, Vũ Duy Thanh vẫn cứ nằng nặc yêu cầu được giải đáp. Đào Tiềm “xịu mặt” nói, và đây hàm ý của ông được bộc lộ: “Tôi đã giải đáp rồi mà ông không hiểu chăng? “Điểu thất” trong Kinh Thi, “Xa quỷ” trong Kinh Dịch, “Bỉ phi” của Khuất Nguyên, “Cô dịch” của Trang Tử, ông cho là sự thực chăng?”.

“Điểu thất”, “Xa quỷ”, “Bỉ phi”, “Cô dịch” đều là quái vật và thần tiên không có thật trên đời. Chúng hoàn toàn có quyền đứng trong văn chương, nghệ thuật. Với nhà thơ Italia thế kỷ XVI T. Taxxô thì vị thần nghệ thuật Apolon “dạy cho tôi những điều chưa hề xuất hiện trong suy nghĩ của tôi ngay cả khi tôi chìm ngập trong trầm tư mặc tưởng” [18, 35]. Nhưng đây không thể là thứ tưởng tượng viễn vông hoàn toàn vô căn cứ. Lưu Hiệp khen “Ly tao” (Khuất Nguyên) rằng: “Tưởng tượng kỳ lạ mà ko làm mất tính chân thực, dùng từ hoa lệ mà không xa rời hiện thực cuộc sống” [27, 81]. Lê Quý Đôn trong “Vân đài loại ngữ” đã dẫn ra câu nói của Hàn Tử để phần nào thể hiện quan niệm của mình: “Người ta ít khi được xem voi sống, mà được xem xương voi chết, trông tranh vẽ có thể tưởng tượng được voi sống. Cho nên người ta khi lấy ý mà tưởng thường dùng với chữ tượng” [4, 25]. Tự cội nguồn, nghĩa của từ “tưởng tượng” đã gắn với thực tế. Nói théo cách nói của chúng ta ngày nay, hư cấu phải gắn liền với hiện thực mới là hư cấu nghệ thuật, bạn đường của những kiểu mẫu sáng tạo lớn xưa nay. Người xưa không ưa thứ văn chương “nói ngoa”, “cường giải” (lời của Hoài Nam Tử). Thi ca cho phép phóng đại, ngoa dụ. Có điều, mọi phóng đại không đúng với bản chất của đời thực đều xa lạ với các thi nhân học giả xưa.