Chữ Tâm trong thơ

Tiếp xúc với những lời bàn luận về thơ của cổ nhân ta thường bắt gặp chữ “tâm”. Thơ kỳ ngộ nhờ thấm nhuần và bắt nguồn từ “tâm”. Ngô Thì Nhậm viết: “Ý đẹp lời hay nhưng sự diệu kỳ vẫn hội ở nơi tâm” [17, 237]. Ta nhớ tới câu nói của Nhạc Phi đời Tống bên Trung Quốc: “Cái kỳ diệu của sự vận dụng là ở nơi tâm” [17, 129]. Có sự học hỏi đồng thời có sự gặp gỡ đáng kể trong tư tưởng của người phương Đông cổ xưa.

Thế nào là “tâm”? Phải chăng “tâm” chỉ là “lòng người” như trong lời của Đinh Linh Uy: “Mượn nó (thơ) để giải tỏa nỗi lòng” [17, 62]? Nghĩa của chữ “tâm” thật ra rộng hơn thế. Nguyễn Hành cho rằng: “Cây tùng, cây bách đều có “tâm”đến lúc rét buốt, “tâm”ấy càng rõ” [41, 144]. “Tâm” thế là đi liền với “đạo” và ngụ ở muôn nơi, muôn vật. “Sông núi thẩy là đạo tâm” (Nguyễn Thứ Phủ) [17, 127]. Tương tự như “đạo”, “tâm” có quan hệ tới “khí”: “Tâm mất điều sở dưỡng thì khí tà, tâm được điều sở dưỡng thì khí đầy” (Vô danh) [17, 170]. Đấy là xét từng hiện tượng và từng cá thể. Rộng ra, hưng phế của triều đại và đất nước cũng nhận được ra từ “tâm”. Nguyễn Hành viết: “Cái khí to lớn của nước ta, thấm nhuần qua sự hàm dưỡng của các triều, đều có thể thấy được là từ tâm” [41, 144]. Đã rõ là “tâm” có mặt tồn tại khách quan của nó, không thể tùy hứng, tùy tiện. Theo Ngô Thì Nhậm thì: “Nó (tâm) đều có thể nói cái có thể nói, không thể nói cái không thể nói” [17, 237]. “Tâm” hướng theo lẽ thường là vậy. Ông lý giải rõ hơn: “Nó (tâm) gửi gắm nơi việc, biểu lộ nơi lời. Còn như đối với việc mà nó gửi gắm, lời mà nó bộc lộ thì cũng như cá tất nhiên phải nhảy, chim tất nhiên phải bay” [17, 237]. “Tâm” nhờ thế mà có sức sống.

Có điều, khái niệm “tâm” trong ý niệm của người xưa về cơ bản cũng không xa với cách hiểu của chúng ta ngày nay là mấy. Ninh Tốn viết: “Trổ sự khéo léo nơi trang giấy, mà sự vật không có ở nơi tâm, nếu gọi là “được” cũng chẳng nhầm sao?” Trong câu nói, “vật” vẫn gắn với “tâm”, tựa như ý kiến của Ngô Thì Nhậm: “Cho nên tâm đã cùng nhau, ắt có điều gửi gắm, khói mây hoa cỏ, khéo đẹp lạ lùng, đều là sự biểu hiện của tâm” [17, 237]. Song ở đây “tâm” đã nghiêng về phía người cảm thụ. Chẳng phải tình cờ mà người xưa thường gắn liền “tâm” với “chí”. Học theo cổ nhân, Ngô Thì Nhậm cho rằng: “Ở nơi tâm là chí, nói ra lời là thơ” [17, 165]. “Chí” nghiêng hẳn về phía chủ quan hơn “tâm”. Tuy cũng như “chí”, “tâm” còn là sự biết bản nhiên sinh ra đã có. Theo Giáo sư Đỗ Văn Hỷ, “cái biết” chia làm hai loại: “Đạo tâm” (cái biết của tự nhiên) và “nhân tâm” (cái biết của con người). Cần phải “định tâm” (ổn định cái biết) mới mong sáng tỏ mọi điều [17, 56].

Cho dù, chữ “tâm” hàm nghĩa rộng đến đâu thì nó cũng luôn giữ vai trò quyết định trong thơ. Ngô Thì Nhậm chỉ rõ phép tắc của thơ chính là “mô tả sự vận động của tâm”. Còn khi lời nói phát ra thiếu phép tắc hoặc không phép tắc thì theo ông “đó là nơi tâm không phép tắc” [17, 29]. Thi ca chỉ phát ra khi có điều sở đắc ở nơi tâm. Còn khi đã phát ra nó phải tuân thủ theo mệnh lệnh của tâm. Đó là đạo của sự sáng tạo thi ca, nghiêm ngặt và phổ quát. Đạo này sẽ chi phối cái đạo của sự cảm thụ thi ca.

Nếu thơ đi từ tâm đến lời thì thưởng thơ phải đi từ lời vào tâm. Đỗ Tuấn Đại khẳng định không chút nghi ngờ: “Tìm thơ văn ông (Lý Văn Phức) sao không đi tìm cái tâm của ông?” Từ bản chất, thơ là tiếng lòng. Một trong những cách chiết tự chữ “thi” là tấc lòng của kẻ sĩ gửi gắm nơi lời. Chính vì thế, cái đích của thưởng thơ là giải tỏ “tấc lòng” của thi nhân, để cảm thông và chia sẻ. Nói như Ngô Thì Nhậm: “Thiên thơ chồng chất, chẳng qua tâm để hiểu tâm mà thôi” [17, 237]. Mà chữ “tâm” dẫu là cõi lòng thì không đơn giản chỉ bao gồm phần hữu thức. “Tâm” còn gồm trực giác, tiềm thức, siêu thức – những cái thường vô hình vô ảnh nằm sâu trong cõi tâm linh. Cảm nhận thế giới ấy đâu có dễ. “Nó huyền diệu nơi vô hình không thể nhìn thấy, vô thanh không thể nghe thấy”, nhưng “là kho tàng cao quý nhất” (Vô danh) [17, 170]. “Cao quý” không chỉ bởi nó làm giàu có thêm đời sống tinh thần của con người mà còn bởi nhờ nó mà phần ý thức được soi tỏ thêm. Vũ Duy Thanh có lý khi viết: “Chỉ khi nghe tới cái vô thanh sẽ ngộ được cái hữu thanh” [17, 76]. Khi bàn về văn chương, nói riêng là thi ca, người xưa chú trọng tới cài nguyên cớ “vô thanh” thì quả là thấu đáo. Vì có lĩnh vực nào cái vô thức lại giữ vai trò to lớn như trong văn chương nghệ thuật.

Cái “tâm”, kể cả hữu thức lẫn vô thức, muốn giàu có muốn sáng trong phải được hàm dưỡng. Vì vậy, mà người xưa đặt ra vấn đề “dưỡng tâm” như là gốc rễ của mọi sáng tạo. Phải rửa sạch nội tâm (đãng hung), phải coi nhẹ mọi vấn vương mọi vật (đạm duyên), phải làm cho tình cảm sống động (di tình). Có thế, mọi chân tướng của sự vật mới được ngời tỏ. Thơ đích thực từ đó nảy sinh.

Cái chủ yếu của làm thơ, viết văn đâu phải là vấn đề “hiểu kỹ”. Phạm Nguyễn Du khẳng định: “Đạo và đức có chất chứa ở bên trong thì mới tràn đầy ra bên ngoài, biểu hiện ra ngôn ngữ ngâm nga, tự nhiên hợp với thanh luật” [10, 158]. Về lượng là vậy, về chất cũng thế. Nguyễn Văn Siêu viết: “Có rõ ràng, dứt khoát ở trong lòng thì sau mới rõ ràng, dứt khoát ở tay và miệng” [10, 147]. Sự giàu có, đúng sai của văn là do sự giàu có sai đúng của lòng người. Gốc có bền, có sâu, là cành hoa trái mới sum xuê, tươi tốt. Ngô Thì Vị xác định: “Người quân tử hài hòa nơi mình tu dưỡng để làm lớn điều mình được trao nhận, đâu phải bo bo nơi nhỏ mọn của vần câu” [17, 108]. “Vần câu”, ngôn từ là “nhỏ mọn” vì thi ca “để làm lớn điều mình được trao nhận”. Và khi đã đạt đến cái đích cao cả ấy một cách hữu hiệu thì “vần câu” ngôn từ cũng thật sự vươn tới những chuẩn mực thẩm mỹ nhất định. Hiểu như thế sẽ không thấy Ngô Thì Vị có xu hướng xem nhẹ các yếu tố hình thức.

Vấn đề còn lại là cần “dày công gắng sức” “nuôi dưỡng cái khí hạo nhiên của mình” “từng ngày từng giờ” để “giữ cái đáng giữ, bỏ cái đáng bỏ” (Lương Khê) [17, 46]. Được vậy thì cái lý thịnh suy, cái cớ được mất ở đời sẽ làu làu nơi tâm trí. Mọi sự rối ren, mờ tối đều trở nên trong sáng nơi cõi lòng. Việc thể nghiệm đạo chân của cuộc đời cũng như việc thăm dò lý kín của lòng người sẽ dần dần tiến tới cái độ cao sâu cần thiết. Và như thế, nỗi băn khoăn của Phùng Khắc Khoan có điều kiện được giải tỏa: “Tự nghĩ: tài chưa kịp cái cao của người xưa, lời chưa kịp cái khó của người xưa, sáng chưa đủ bình luận nhân vật cổ kim, tối chưa đủ kinh động quỷ thần trời đất... thì sao đủ đi sâu vào cách luật diệu kỳ của thơ?” [17, 16]. Thi ca là “diệu kỳ”, song sáng tạo nên một sản phẩm tinh thần như thi ca không phải nằm ngoài tầm với của những ai biết “dày công gắng sức” hướng tới cái tận chân – tận thiện và tận mỹ.

Để tạo ra những vần thơ “bất hư truyền” thì sự dưỡng tâm càng phải nhiều, phải cao và phải thường xuyên. Cần đạt tới “sự suốt trong không bụi của ngọc trai” (Vô danh) [17, 169]. Khi ấy thì không có vật gì, không có người nào dẫu khó hiểu và rắc rối đến đâu lại không được phanh phui, tỏ bày trước con mắt của nhà thơ. Đúng như lời của Miên Trinh: “Trong sáng ở nơi ta thì chí khí như thần, tâm thuần nhất thì trong, gương thuần nhất thì sáng, thế thì sự tốt xấu của muôn vàn hiện tượng biết trốn vào đâu” [17, 219].