Thực và hư trong thơ

Mối quan hệ giữa thi ca và thực tạo còn bộc lộ qua cặp phạm trù thực và hư trong thơ. Vấn đề kỳ - chân, ảo – thực được người xưa biện giải khá thú vị và thỏa đáng trong các lời Tựa, Bạt, Bình “Dương mộng tập” của Hà Tông Quyền. Ông đỗ tiến sĩ năm 1822, sau làm tri phủ rồi làm việc trong nội các nhà Nguyễn. Đầu tiên ông rất được triều đình tin dùng. Về sau vì một lý do rất vu vơ, Minh Mệnh cắch chức bắt ông phải đi hiệu lực Nam Dương cùng với Phan Thanh Giản. Ông sáng tác khá nhiều thơ văn, trong đó nổi bật là tác phẩm “Dương mộng tập”. Tập thơ có nhiều bài nói lên nỗi lòng bi phẫn của tác giả một cách kín đáo. Nhiều bài có tình và đẹp về nghệ thuật thơ. Khi tập thơ in ra Lương Khê đã viết lời Đề tựa, Phan Huy Chú, Doãn Ẩn, Kính trai Ngô Hy Phan và Phan Thanh Giản viết lời Bạt, Vũ Trọng Đại viết lời Bình. Có thể nói đây là những tư liệu quý giá giúp soi tỏ nhiều vấn đề quan trọng và lý thú trong quan niệm thi ca của ông cha. Nổi bật hơn cả là vấn đề thực và hư trong thơ.

 

Nghệ thuật, xưa cũng như nay, rất cần chất hư ảo. “Phi kỳ bất truyền”. Vương Duy viết trong “Sơn thủy luận”: “Vẽ núi sông cốt giữ lấy cái bóng sáng của nó” [18, 69]. Không ở đâu ước vọng, khát khao của con người lại được gửi gắm và lưu giữ nhiều như trong nghệ thuật, nhất là thi ca. Nàng thơ vốn ưa bay bổng nên được chắp đôi cánh diệu kỳ. Đó chính là đôi cánh tưởng tượng, của ước mơ “mới lạ” và lắm khi “kỳ quái” (lời của Doãn Ẩn).

 

Vậy mơ là gì? Lương Khê viết: “Mơ là cảnh ảo... nhớ nó như thế chứ không biết nó tại sao như thế” [17, 45]. Ông đã chỉ ra một đặc điểm của mơ, ảo, hư là kỳ lạ, linh diệu. Trong bài Bạt ông có điều kiện nói rõ hơn: “Sinh vào thời Thái hoang, chẳng biết đâu là bắt đầu; chơi ở nẻo vô cùng, chẳng hiểu đâu là kết thúc” [17, 121]. Đã gọi là mơ là ảo thì làm sao có giới hạn. Hình dạng của nó cũng không thật rõ: “Ẩn khuất nơi không thanh, thông nơi không tượng, vào nơi không làng, không vời mà tới, không cuốn mà thu, lớn không đầy vốc, nhỏ khắp mọi nơi” [17, 121].

 

Thật là huyền diệu. “Đi mà chưa từng qua, được mà chưa từng có” (Vũ Trọng Đại) [17, 174]. Đó là những gì “sách vở chưa từng ghi, chân người chưa từng tới” (Phan Huy Chú) [17, 112]. Tuy chúng không nằm ngoài cuộc đời này. Chẳng thế Kính trai Ngô Hy Phan đã ko viết: “Thế giới như giấc mơ” [17, 119]. Có thể nói như vậy là bởi hư hay thực, tàng hay lộ, hữu hạn hay vô hạn cũng chỉ là tương đối. Trong quan hệ này nó là hư, rất có thể trong quan hệ khác nó lại là thực. Hơn nữa, nói như Hà Tông Quyền: “Hư thực hình thành lẫn nhau” [17, 229]. Nghĩa là hư, thực có thể chuyển hóa cho nhau. Lẽ biến thông ấy được giải thích trong Kinh Dịch. Đọc Dịch ta thấy thế giới đầy rẫy điều huyền ảo, nhưng là những điều huyền ảo có thể lý giải được. Bởi vậy Vũ Duy Thanh mới cho rằng: “Dịch không phải ảo” [17, 75]. Sự tỉnh thức của trí tuệ con người được đặc biệt coi trọng. Hầu như các học giả đều cùng thừa nhận vai trò của sự tỉnh thức. Vũ Trọng Đại viết: “Mơ ư! Đó là tỉnh vậy” [17, 174]. Còn Hà Tông Quyền thì khẳng định: “Mơ đó liền tỉnh đó” [17, 229]. Cái đích đi tới chính là sự tỉnh thức, nếu không huyền ảo sẽ hóa thành huyền bí. “Cực tả cảnh mơ nhưng quay về cái tỉnh” [17, 229]. Như thế là lại trở về với cái thực đấy rồi! Thi ca không thể tách rời đời thực. Nhà thơ hãy đi vào đời sống, tìm cảm hứng sáng tạo trong cái không cùng tận của cuộc đời. Đúng như sự giả định của Doãn Uẩn: “Nếu chỉ đóng cửa ngồi một mình gượng làm một vài câu sáo mục... Như vậy đối với thơ liệu ra sao nhỉ?” [17, 115].

 

Vậy là dù điểm xuất phát từ đâu thì người xưa cũng gắng đi vào quỹ đạo chung của thi ca chân chính mọi thời. Song cũng chính nhờ điểm xuất phát không giống nhau mà ta mới có điều kiện tránh xa khuynh hướng đơn giản hóa cái thực trong thơ. Đã từng có người nghĩ về cái thực một cách quá dung tục. Xin hãy dừng lại quan niệm của người xưa, chẳng hạn của Lê Quý Đôn. Với ông, “sự thật” có thể là những gì tai nghe mắt thấy. “Sự thật” còn có thể là những cái mà giác quan bình thường không thể nhận biết được. Ông viết không chút do dự: “Cái gì người ta thường thấy thì tin, chưa thấy bao giờ thì ngờ... Nếu cái gì mà tai không nghe thấy, mắt không trông thấy đều cho là không phải, chẳng hóa ra là ngu xuẩn lắm ru!” (Điều 43 – Lý khí). Lê Quý Đôn còn giải thích thêm: “Thuyết âm ty địa giới tựa như hoang đường nhưng tóm lại là do ở sự huyền bí của tạo hóa... mà thôi” (Điều 47 – Lý khí). Sự sáng suốt đến lạ lùng! Càng lạ lùng hơn khi ta biết Lê Quý Đôn sống trong thời đại luôn bị thần quyền huyễn hoặc.

 

Tóm lại, hư trong suy nghĩ của người xưa không tách rời thực. Thơ và nhà thơ bởi vậy phải biết ơn đời sống. Đây là kết luận rút ra của nhiều người. Phan Huy Chú viết về “Dương mộng tập”: “Không bài nào không có sự nâng đỡ của núi sông” [17, 113]. Còn Doãn Uẩn thì viết: “Tập thơ này đúng phải có sự nâng đỡ của núi sông” [17, 116]. Lẽ nào đó không phải là bài học thấm thía đối với các nhà thơ mọi thời. Đã rõ là trong thưởng thơ, cùng với tâm, chí và tình, người xưa không quên cảnh, sự và việc. Bình các bài thơ “Trai”, “Sò” và “Thôn Đông Thượng” của Bùi Huy Bích, Phạm Nguyễn Du nhận thấy: “Sự suy cứu cái lý, quan sát sự vật của nó rất sâu” [17, 106]. Có lẽ Phạm Nguyễn Du chịu ảnh hưởng quan niệm “thi khả dĩ quan” của Khổng Tử. Nếu hoc được và hơn thế thấm được, vận dụng được cái hay cái đúng của người (đây là bậc Thánh) thì rất tốt. Nhưng trong trường hợp này khi hạ bút viết về “sự suy cứu cái lý” của đời thì Phạm Nguyễn Du không chỉ thuần nhắc lại ý của tiền nhân. Thứ thơ ấy ắt có tác dụng đối với nhận thức của người đọc. “Truyện Kiều” là một dẫn dụ. Cao Bá Quát vừa thông cảm với “tiếng nói răn đời” vừa nhận ra “tiếng nói hiểu đời” của kiệt tác đứng vào hàng đầu trong lịch sử văn chương dân tộc [41, 151].