Thơ với chính sự

 

Một trong những điều gần gũi khác giữa quan niệm thơ xưa và nay là việc nhấn mạnh mối quan hệ của thi ca với chính sự. Cổ nhân cho rằng có ba sự nghiệp lớn có thể lưu danh hậu thế. Đó là lập công, lập đức và lập ngôn. Trong thực tế ba sự nghiệp ấy gắn bó với nhau, hòa quyện vào nhau. Ý nghĩa lớn lao của văn chương đối với con người và cuộc đời xuất phát từ đây. Lê Quý Đôn viết thật bao quát và đúng đắn: “Văn chương là gốc lớn để lập thân, là việc lớn để sửa đời” (Điều 2 – Văn nghệ). Cao Xuân Dục đặt văn chương trong quan hệ trực tiếp với nghiệp nước: “Văn là sự nghiệp lớn để trị nước, là công việc bất hủ, làm một lúc nhưng truyền lại muôn đời” [1, 151].

 

Thi ca không nằm ngoài quỹ đạo chung này. Bàn về mục đích của thơ, Ninh Tốn xác định: “Việc là ở Ô châu thực lục, nhưng nghĩa là khuyên bảo răn đe, nhờ văn để hành đạo, nhưng không rơi vào phù hoa, tới việc để làm sáng lý, nhưng không động ở chỗ thô thiển, đặt nó nơi bình phong, có thể là sự toan tính sâu xa giúp thánh triều coi dân chế trị, khắc nó nơi ván gỗ, có thể nuôi dưỡng to lớn thành sự khuyên răn mẫu mực cho ngàn vạn đời sau” [17, 28].

 

Đọc những dòng này ngày nay có người không khỏi e ngại. Liệu chức năng của thơ “vốn là tiếng nói tâm tình của con người với con người” có quá cao siêu? Nếu đúng vậy thì mục đích này may ra chỉ phù hợp với thứ thi ca của bậc thánh trí luôn mong giúp đời sửa người. Liệu đó có phải là quy luật chung của thơ mọi thời mọi người? Ngẫm nghĩ kỹ thì đó chỉ là nỗi băn khoăn của người hôm nay. Trong đầu óc của người xưa hầu như không tồn tại nỗi e ngại tương tự. Với nhà Nho, “văn” là một trong những phương cách để “hành đạo”, “thơ” là một trong những con đường để “dưỡng tâm”. Chẳng thế, một tác giả vô danh đã không viết những dòng sau về mục đích của thơ tiên nghĩa là thứ thơ ít nhiều mang màu sắc siêu thoát: “Sự việc thần tiên thuộc về mờ mịt, nhưng riêng muốn ưu ái như thế nào? Đưa vua đến sự hiền minh như thế nào? Làm cho dân no ấm như thế nào? Làm cho sinh linh và triều đình hạnh phúc như thế nào? Đó là một thần linh ở trên đời vậy” [17, 54]. Không thể nói là mục đích của thi ca trog quan niệm của người viết không cụ thể. Thậm chí, đó là những hiệu quả xã hội có thể tính đếm được. Lại là thơ tiên. Nói gì đến thơ thế sự. Sức mạnh của thơ văn loại này càng lớn hơn. Nguyễn Thượng Hiền biểu đạt rất đúng: “Thét một tiếng đã nâng dậy chứng ý của một nền văn hóa suy đồi” [17, 101].

 

Được vậy thì thơ phải gắn liền với chính sự, với thời cuộc. Ngô Thế Vinh viết: “Cái biến của văn chương cũng suốt thông với chính sự” [17, 142]. Hồng Nhậm gắn “đạo đời” với “đạo thơ”. Ông vua – thi sỹ này cho rằng: Bản triều có nền chính sự văn minh/ Bốn bể tràn đầy lời ca vịnh [17, 89].

 

Ý thơ rõ ràng mang đậm vẻ quan phương, không mấy phù hợp với tính chân thật lịch sử triều Nguyễn. Ở đây, ta chỉ lưu tâm đến ý thức đối chiếu những “lời ca vịnh” với chính sự của “bản triều” trong ý thức một người làm thơ, tựa như Bùi Dương Lịch nhận ra “vận hội nước nhà đương thịnh” với việc đất nước “sinh ra người hiền giúp sức” [17, 33]. Bằng cái nhìn bao quát hơn, Nguyễn Cư Trinh viết: “Thời có lên xuống, nên thơ có sơ, thịnh, trung, vãn không nhất trí” [10, 115].

 

Nhưng sáng tạo thi ca không giống với các hoạt động sản xuất vật chất khác. Lòng người làm thơ thì phải chứa chan cảm xúc “ưu thời mẫn thế” (lời Ngô Thì Hoàng). Nói gì thì nói, cảm hứng thi ca chân chính được khơi nguồn từ những điều tai nghe mắt thấy can hệ đến sự tồn vong của một triều đại, một đất nước, tới sự vui buồn, sướng khổ của “dân đen con đỏ”. Đinh Ling Uy trong “Tang thương lệ sử” đã viết rằng chiều hướng sáng tạo thi ca “là quan hệ của suy hưng một thuở, cảm khái nghìn thu” [17, 63]. Trước đó ông đã lý giải lẽ “hưng vong” của cuộc dâu bể thế này: “Đất Thăng Long thời xưa là đất đế vương xây dựng đô kỳ, mủ đai non vật, thịnh ở non nam, văn thái phong lưu, nhất nơi hải nội... Sau khi thay đổi, hoang phế sạch trơn, hoàng đô phần nửa thê lương, vương phủ cũng giao cho ngọn lửa” [17, 62]. Đây là lý do bên trong thôi thúc ông cầm bút viết những vần thơ “tang thương” vừa để giải tỏ nỗi lòng, vừa để chia sẻ nỗi ưu tư trước nhân tình thế thái.

 

Mới hay, ý thức công dân của người cầm bút đã được đặt ra và thấm nhuần từ lâu. Người làm thơ đâu được phép chỉ sống cho riêng mình. Bài thơ là sản phẩm của riêng người viết nhưng khi đã đến tay người đọc thì hóa thành “của công thiên hạ” (lời Lê Quý Đôn) đâu có thể được phép buông tuồng. Sống trong cộng đồng, nhà thơ cũng như bao người khác cần sống có trách nhiệm với mình, với đời. Muốn thế phải hiểu mình là ai, mình cần làm gì để xứng đáng đứng giữa trời đất này. Nguyễn Văn Siêu tự nhủ mình sống theo đạo thường ấy: “Phương chi ăn thì người làm ruộng cày thay ta, ở thì người thợ làm thay ta, dùng thì người buôn bán trao đổi thay ta. Vậy thì cái trách nhiệm mà người đời đòi hỏi ở bọn ta cũng không phải nhẹ. Mà bọn ta coi việc này là một điều tắc trách thì hóa ra ta đã phụ vua ta và người đời chẳng lớn lắm sao?” [41, 126]. Dường như trong lòng kẻ sĩ có sự ăn năn. Tự mình trách mình, sức thuyết phục càng lớn hơn.

 

Bùi Ngọc Quỹ dẫu không nói ra chắc cũng cùng một tâm sự, một chí hướng với Nguyễn Văn Siêu, do vậy mới làm bài thơ có tựa đề rất ý nghĩa “Thấy nông dân guồng nước tưới ruộng, úy lạo họ một bài thơ”. Đặc biệt câu kết của bài thơ đã nói nhiều về ý nguyện đáng khâm phục của bậc trí giả: “Phen này từ chức nguyện làm rạng rỡ nghề nông”. Có người nào sống ở đất nước nông nghiệp như Việt Nam ta xưa kia lại không liên hệ cách này cách khác với nghề nông. Nếu không trực tiếp cầm cuốc, cầm cày thì làm thơ viết văn để “minh nông”. Như vậy họa may mới mong trả một phần món nợ tinh thần và vật chất mỗi khi nâng bát cơm “dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” lên miệng ăn hàng ngày.

 

Sản phẩm chính yếu của nhà thơ là thi ca. Lời nói nghệ thuật của nhà thơ chính là hành động xã hội của anh ta. Do vậy, trước hết hãy lo viết những vần thơ cho xứng đáng. Đồng thời sao cho thật hữu ích. Đọc sách sử bên Trung Quốc, Đỗ Kiêm Thiện rút ra một bài học phản biện qua sự lầm lỡ của triều đại Tống Thái Tông. Chưa thể coi đây là thời thịnh trị, thái hoa. Vậy mà “buồn thay: vua rằng xem hoa, tôi rằng xem hoa; Vua rằng vịnh thơ, tôi rằng vịnh thơ” [41, 170]. Trong thơ vua tôi viết gì? “Đất trời hết thảy một mùa xuân”, rồi “Điềm lành, tin tốt tới luôn luôn”. Nhắc lại sự thật đau lòng ấy, Đỗ Kiêm Thiện nhận xét: “Viết như vậy, họ không biết rằng họ chỉ đẩy vua của họ tới chỗ kiêu dật, mà không biết đòi hỏi vua họ ở chỗ ưu cần” [41, 171]. Thứ thơ ca đó vô thưởng vô phạt ư? Không, nó có hại và có tội; cái hại và cái tội đâu có nhỏ.