Thơ là người

Ngày nay, ta thường nói tới vai trò quyết định của chủ thể trong sáng tạo. Nguyên lý này có tính phổ quát, bởi thơ là sản phẩm tinh thần của chính nhà thơ. Người xưa đã thề hiện nguyên lý chung đó bằng một định thức quen thuộc: “Thơ là người”.

Mệnh đề ấy hoàn toàn nhất quán trong nhận thức của người xưa. Ngô Thì Vị viết về Trịnh Hoài Đức: “Thơ ông như người ông, điều mà ông gánh vác như điều mà ông tu dưỡng” [17, 110]. Nhận xét vừa bao quát vừa xác đáng. Thơ là người, mà người thì có nhiều loại, nên thơ cao thấp cũng không giống nhau. Nguyễn Cư Trinh viết: “Người có sâu cạn, cho nên thơ có mờ tỏ, rộng hẹp khác nhau” [41, 47]. Người có nhiều thiên hướng và vì thế thơ cũng có nhiều “sở trường riêng” (lời Lê Quý Đôn). Nguyễn Địch Cát xác định: “Người nào trội về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã, người nào trội về khí phách thì làm thơ hay hùng hồn, người nào giỏi về dùng từ đặt câu thì làm thơ hay hoa mỹ, người nào giỏi về điển cố thì làm thơ hay vững vàng... Xem thơ thì có thể mường tượng mà thấy được người” [10, 115]. Ngày nay, có lúc có nơi vai trò chủ quan của người làm thơ bị xem thường hoặc phủ nhận. Đọc những dòng trên. Ta thêm vững tin vào cái đạo lớn của thi ca và rộng ra là của nghệ thuật.

Nhấn mạnh tới yếu tố bên trong, người xưa không coi nhẹ yếu tố bên ngoài. Chưa có sự ăn nhập giữa hai yếu tố chưa thể bật thành tiếng thơ. Kính trai Ngô Hy Phan viết: “Bên trong không có gì trái với tâm, bên ngoài không có gì chạm với vật, nên biết bao nỗi lòng cao vợi thẳng ngay chưa hoàn toàn bộc lộ” [17, 117]. Tuy nhiên điểm xuất phát theo lời Ninh Tốn là “mệnh lệnh nới tâm”. Trước hết trong lòng phải có nhiều da diết muốn được giãi bày. Cảnh chỉ là chỗ “ngụ ý”, sự là chỉ nơi “tự thuật”. Nguyễn Thứ Phủ cho thơ của Lê Hy Thường nảy sinh là do “đắc ý nơi núi sông, hay nhân việc nên lời” [17, 126]. Chỉ khi hóa lòng thành “nỗi riêng tư” day dứt mới mong gửi gắm nơi cảnh vật.

Lòng người có lúc vui lúc buồn. Đó là lẽ âm dương của tạo hóa thể hiện nơi con người. Cho nên thơ cũng có thơ vui, thơ buồn. Đề tựa “Tập thơ nỗi nhớ buồn đằng đẵng” của Nguyễn Kỳ Trai, Phạm Nguyễn Du viết: “Ở trời đất là thu đông, ở con người là buồn nhớ. Thu đông là buồn nhớ của đất trời, buồn nhớ là thu đông của nhân loại. Nói chung... có âm ắt có dương, có còn ắt có mất, có xuân hạ ắt có thu đông, có vui mừng ắt có buồn nhớ” (Tạp chí Văn học, Số 1/1981). Thơ có thể và cần thiết diễn tả nỗi buồn. Thơ lưu biệt là một ví dụ: Chén mời qua lại như bay, vần thơ giục viết/ Trong khi say nét mực điên rối loạn lâm ly (Miên Thẩm) [17, 81].

Chính Nguyễn Trãi cũng từng viết: “Liêu bả tân thi tả ngã sầu” (Tạm đem bài thơ mới giải tỏ nỗi sầu của ta) [6, 111]. Tuy nhiên, quan trọng là buồn nhớ ra sao? Buồn đến tiều tụy, nhớ đến bi lụy không phải là dụng tâm của những người cầm bút chân chính. Ngô Thì Vị cho rằng: “Đời người có kẽ thích dùng thơ làm cho mình nổi tiếng, thường thường sinh cấu tứ như mùa thu, buông tiếng như âm thương, hoang lạnh hắt hiu”. Riêng thơ của Trịnh Hoài Đức, theo ông, có buồn đau nhưng không thế. Đó là bởi, Trịnh Hoài Đức “không nỡ đem cái mà đời ham thích để làm hại cái mà mình tu dưỡng” [17, 108-109]. Có thể nhận thấy người xưa phân biệt sắc thái và giới hạn tình cảm sâu sắc đến nhường nào.

Rất rõ là cổ nhân luôn đề cao yếu tố chủ quan của nhà thơ. Nhữ Bá Sỹ biện luận: “Đến cái cùng tột như sắc tướng trong hư không, như ánh trăng dưới nước, bóng hoa trong gương, trừ khi con người gột tình ngưng chí, tầm mắt mênh mông, phong như trầm tĩnh, đưa tinh thần ngoài tám cõi, thả tâm trí trên muôn phần, mới có thể với kịp” [17, 232]. Từ đây nảy sinh ra quan niệm của Miên Trinh về khái niệm “động” và “tĩnh” trong thơ [7].

Là người bảo vệ cái “tĩnh” cũa thơ, ông đã lấy tên “Tĩnh phố” đặt tên cho tập thơ của mình. Ông viết: “Quả có cái động trong thơ, song tôi không theo được mà cũng không muốn học theo”. Chính là bỏi “cái tạng” của ông phù hợp với cái “tĩnh”. Thế nào là “tĩnh” trong thơ? Không giải thích trực tiếp, Miên Trinh dẫn ra “cái thần tình của Đào Uyên Minh, cái xa vời của Mạnh Hạo Nhiên, cái thanh đạm của Vi Ứng Vật, cái đôn hậu của Trừ Quang Hy”. Đó là những nhà thơ đời Đường ưa tĩnh tâm trong ẩn dật, xa lánh với cõi hồng trần. Với ông, “động” và “tĩnh” trong thơ chính là biểu hiện của nhập hay xuất trong hành sự. Tất cả đều gắn liền với quan niệm sống của người làm thơ. Vậy trong thơ không nen hạ thấp cái “tĩnh”, cũng như không nên coi thường cái “động”. Ông đi đến kết luận: “Nước đối với sóng gợn, chim đối với tiếng hót, cốn là cái động. Còn như núi với khí lam, hoa với hương thơm, phải đâu cũng do động mà sinh ra? Điều đó đủ thấy động không phải đều là hay, mà tĩnh không phải là không có cái khéo của nó”. Tiếng thơ đa dạng vậy là do cả hai phía: Cuộc đời muôn hình vạn trạng, và cái tâm người làm thơ thì không ai giống ai.