Sự trau dồi nghề thơ

Phong cách gắn chặt với tài nghệ. Vậy tài nghệ thi ca là gì? Vai trò của thiên tư và sự rèn luyện ra sao trong việc hình thành tài nghệ thi ca? Những vấn đề hệ trọng này từ lâu đã được người xưa đặt ra và giải quyết. Phạm Nguyễn Du trong khi khẳng định “thơ là tài nghệ”, đã băn khoăn tự hỏi: “Các bậc hiền triết ngày xưa đầy đủ đạo đức và nhân, nhưng vẫn có người chưa đầy đủ tài nghệ”. Vì sao? Câu hỏi đã đưa ông tới câu trả lời thỏa đáng: “Vì tài nghệ phần nhiều nảy sinh từ thiên bẩm chứ không hoàn toàn do học vấn” [17, 106].

Minh chứng của thiên tư mà người xưa hay đề cập là do “nếp nhà sẵn có” (Ngô Thì Sỹ). Đó là cơ sở cho lời giải thích của Phan Huy Ích về sự hình thành của “Ngô văn gia phái” trong lịch sử văn chương dân tộc: “Nhờ phúc ấm tổ tiên mà dòng văn đời đời nối tiếp, tinh hoa đầy rẫy trong văn từ... rõ là phong cách của Đại gia, vẻ đẹp mùi thơm mãi mãi ngọt ngào rực rỡ” [41, 83].

Con dòng cháu giống là có thật. Song cái quyết định theo Lê Hy Thường là ở cá nhân mỗi người: “Nói chung, Hữu Thường với tư chất tự nhiên, lại nhờ được sự phong quang của gia tộc, nhưng ông thờ ơ không có ham muốn gì ngoài ham muốn thơ văn” [17, 124]. Do vậy để bàn về sự nảy nở của tài thơ, Bùi Huy Bích đã đưa ra hai yếu tố: Một là “lời di giáo thực không phải mỏng”, và hai là “vốn sẵn là thông minh lanh lợi” [17, 68].

Nhận thức của người xưa vậy là nhất quán. Cũng không có gì mâu thuẫn khi Nguyễn Đức Đạt trả lời câu hỏi “thế nào là tài?” lại cho rằng: “Tài cũng như của vậy. Kho đụn chứa không nhiều thì hẹp hòi về ân huệ, bụng dạ chữ không nhiều thì nghèo nàn về lời lẽ” [41, 173]. Người xưa cho rằng “tài” có nhiều dạng: có thiên tài, có địa tài và có nhân tài. Thơ bắt nguồn từ tài nhưng quý nhất ở “toàn tài”. Thực tài chỉ có được nhờ trau dồi, học hỏi. Lê Hy Thường khái quát: “Nói chung, kẻ sĩ muốn tiến xa hơn trước tiên phải có khí phách và kiến thức rồi sau đó mới nói tới tài nghệ” [17, 125]. Thật đủ đầy trong nhận thức của ông. Do vậy, sở học được đặt ra là dễ hiểu.

Người xưa không thể hình dung nổi tài thơ nếu thiếu sức học. Thậm chí thơ (theo Ngô Thì Nhậm) là “nơi suy nghiệm, nơi suy cầu cho kẻ sĩ muốn thi hành cái học của họ” [17, 31]. Chẳng thế mà đọc thơ nghĩa là học thơ có thể giúp cho sự học của người đời từ nhiều điều sơ giản nhất tới nhân nghĩa ở cửa Thánh Hiền. Thế rồi làm thơ thành tiêu chuẩn quan trọng của người có học, thi ca thành như cầu không thể thiếu để bồi bổ trí tuệ. Phùng Khắc Khoan cứ “mười năm làm một quyển (thơ) để xem cái trình tự học hỏi tiến tới của mình” [17, 17]. Và Ngô Thì Hoàng thì qua tập thơ mới của Hy Lượng “so với tám bài “Thiền lâu nhập cách” năm ngoái, lại tiến thêm một bước, đủ thấy sự học của gia đình” [17, 37].

Đã vậy thì người làm thơ phải không ngừng học hỏi người xưa cũng như người nay. Nhu cầu học không biết đâu là giới hạn. “Độc thư phá vạn quyển – Hạ bút như hữu thần” (Đỗ Phủ). Phùng Khắc Khoan viết: “Với cái học thấp kém, cái lời vụng về thì sao đủ đi sâu vào cách luật kỳ diệu của thơ, và tham dự tao đàn nguyên suý?” [17, 16]. Bản thân cách đặt vấn đề một cách khẩn thiết đã hé mở phương cách học hỏi cho có hiệu quả. Ngô Cương Mạnh Đoan nói rõ hơn ý này. Với ông, muốn làm thơ trước tiên phải ‘biết” đọc sách. Thế nào là biết đọc? Một là phải ghi nhớ: “đọc sách ghi nhớ thì tinh hoa tự nhiên siêu việt, văn thơ liền trở thành ngay”. Và hai là “phải để tâm vào sách” [17, 123]. Yêu cầu sau của Ngô Cương Mạnh Đoan được Phạm Nguyễn Du phát triển sâu hơn. Phạm Nguyễn Du lưu ý: Sự học của người quân tử “ắt phải lấy sự truy cứu tới cùng cái lý và cái tính làm căn bản” (Tạp chí Văn học, Số 5/1981).

Đạt tới cái tầm đọc sách ấy người ta sẽ ngộ ra bao điều lý thú và bổ ích. Căn bản lá cái đích của sự học, sự đọc không bị lầm lạc ngay cả khi sự học ngoài đời còn ngổn ngang bao điều ưu tư. Một tác giả vô danh từng trăn trở: “Cái học làm sáng tỏ cái đức, đổi mới lại người dân, lâu rồi không giảng dạy ở đời. Còn như cái điều giảng dạy ở thời gần đây là điều chuyên trị văn chương, ứng phó cử nghiệp, để nhòm ngó danh lợi” [17, 159]. Có cái học nâng đỡ lại có cái học làm tắc rối người học. Cho nên bản thân người học phải tự định hướng cho mình.

Với người làm thơ, việc học cũng có những yêu cầu riêng. “Thi hữu biệt tài” (thơ có thể tài riêng), “thi hữu biệt phú” (thơ có hứng thứ riêng – Nghiêm Vũ) [27, 215]. Công việc của người làm thơ làm văn đcọ thơ, văn của người khác, nhất là những kiệt tác của các bậc Đại gia. Miên Thẩm xác nhận: Bể Lục (Lục Cơ) sông Phan (Phan Nhạc) vào trong bụng/ Nên lời thơ cuồng loạn trào ra không bờ bến [17, 86].

Cả Nguyễn Du và Nguyễn Thượng Hiền cũng chung một ý nghĩ với Miên Thẩm khi hướng tới thi hào Đỗ Phủ.

Nguyễn Du viết: Mộng hồn dạ nhập Thiếu Lăng thi (Hồn mộng tôi đêm đêm nhập vào thơ Đỗ Thei61u Lăng) [6, 255].

Còn Nguyễn Thượng Hiền thì viết: Cả cuộc đời ăn ngủ với ông già họ Đỗ/ Nên tung tích cũng áng chừng phù hợp với ông [17, 102].

Không có thời xưa thì không có thời nay. Điều này đặc biệt đúng với thi ca, nghệ thuật. Bởi, thơ là một nghề. Như bao nghề khác, làm thơ phải học hỏi và trau dồi kỹ xảo. Theo Cao Bá Quát phải “mài dũa hàng trăm ngàn lần mới gọi là học, nếu chỉ biết một phần, hiểu dở chừng, chưa phải là văn chương” [10, 177]. Làm thơ giống như người thợ rèn xưa dùng rìu đẽo vết bùn ở mũi mình đến khi vết bùn sạch hết mà không hề xây xát đến mũi. Đó là lề luật hầu như không chấp nhậnn ngoại lệ. Ta hiểu nguyên cớ câu thơ của Quân Bác: Khách thơ già đời vất vả với câu thơ xuân [17, 105].

Trước cảnh đẹp mùa xuân, “khách thơ” không thể dửng dưng. Nhưng làm những vần thơ hay tương xứng với vẻ đẹp của mùa xuân đâu có dễ. Không dễ ngay với cả “khách thơ già đời”. Vì thơ là một nghề đặc biệt. Thi luận không nhất thành bất biến. Trên cơ sở thấm nhuần lề luật chính yếu, người làm thơ phải biết tung hoành trong cảm hứng sáng tạo tràn ngập. Nhật nhật tân, hựu nhật tân. Bất thành luật là loại “thi ma”, nhưng câu nệ vào vần luật lại là loại “thi nô”. Người làm thơ giỏi phải là “hóa công” tài ba chứ không thể là “họa công” thấp kém. Phạm Nguyễn Du từng ví việc đua thơ như đua cờ ở chỗ “biến hóa vô cùng, đã linh hoạt lại càng linh hoạt” (Tạp chí Văn học, Số 1/1980, tr. 153). Mỗi người làm thơ tùy sở trường sở đoạn của riêng mình mà thích ứng với sự biến thông không cùng của thi ca. Không hề có mẫu mực để người làm thơ bắt chước. Ngô Thì Nhậm viết: “Phép tắc trong thơ là sự bí mật mà Thánh nhân không truyền thụ, chỉ có thể khế hợp bằng tinh thần, không thể tìm kiếm bằng trí tuệ” [17, 29]. Đó là chưa nói khi cái đích đã được xác định, và ý tình đã được tạo lập thì việc tìm một cách thể hiện sao cho phù hợp và hấp dẫn cũng còn thật khó khăn. Nguyễn Thượng Hiền viết rất đúng rằng: Trong bụng nảy sinh ra hình dáng cầu vồng vút cao muôn trượng/ Khi nói ra lời đã cảm thấy thấp mất ba phần [17, 101].

Có thể nói, cuộc vật lộn giữa ý và lời diễn ra trong suốt quá trình sáng tạo. Phải bỏ nhiều công sức và thời gian mới mong đạt tới cái đích mong muốn. Từ cái khó trăm bề của công việc làm thơ mà người xưa rất cẩn trọng khi dụng bút. Phải “thôi xao”, vì “thi bất cải bất công”. Đọc “thi thảo chân tích” của các bậc thi hào xưa đủ rõ. Ai cũng rất công phu khi trau dồi nghề thơ. Nhữ Bá Sỹ cho rằng học thơ cũng như học viết “không thể vượt bậc”. Trong cách học viết xưa kia trước tiên phải viết phóng chữ thiếp bằng son, sau viết phóng chữ thiếp bằng mực, sau nữa để chữ thiếp bên cạnh mà viết theo. Nếu “muốn bỏ viết phóng bằng son, mà viết phóng bằng mực, chưa thể viết phóng bằng mực mà viết buông, chưa biết viết buông mà tự viết, đó là điều dứt khoát không thể có” [17, 231]. Ai nóng ruột muốn “đốt cháy giai đoạn” chỉ chuốc lấy thất bại. Mọi thành đạt trong thơ chỉ đến với nhiều người kiên trì học hỏi rèn luyện suốt đời.