Phong cách thơ

Đó là một trong những biểu hiện của tài năng thi ca đích thực. Tài nghệ thi ca còn đi liền với việc tạo lập nên nét riêng, không lặp lại người của nhà thơ. Ngô Thế Vinh viết rất đúng rằng: “Con người ta quý ở sự tự tin, ví bằng có điều đáng tự tin thì hãy tự tin” [17, 218]. Đức tự tin rõ ràng bộc lộ thực lực, thực tài của mỗi người.

Người xưa không phủ nhận gốc gác của cái riêng từ thực tế khách quan. Đối tượng thi ca muôn màu muôn vẻ, viết về cái đa dạng bằng một cách thức, một kiểu dạng là không thể. Ngô Thì Vị nói: “Qua đây (thơ) mà mai xuân sen hạ, cúc thu tùng đông ngọt ngào riêng vẻ, cái nào cũng được xuất hiện đúng lúc, đâu có thể nắm được mà hạn định nó” [17, 110]. Tốt nhất là cảm thông với muôn vật muôn loài để cho chúng một dáng vẻ không lặp lại nhau. Người xưa còn nhận ra nét riêng biệt của văn chương gắn với vẻ độc đáo của một vùng, một địa phương. Hào kiệt không tách rời hùng khí núi sông. Địa linh có vai trò đặc biệt trong việc sản sinh ra thiên tài. Bùi Huy Bích có lý khi phát hiện ra “văn chương của Nghệ An nhiều cứng cáp nhưng ít hoa lệ”. Tại sao vậy? Ông giải thích: “Khí chất như vậy, cho nên phát lộ ra văn chương cũng như vậy” [17, 139]. Con người ở đây ít chú ý đến hoa sức, văn chương ưa chất thực là phải.

Nhưng nét riêng biệt của người cầm bút có cơ sở chính từ bản thân họ. Ở đây, đụng chạm phải vấn đề con người cá nhân trong nền văn chương thời trung đại. Hiện tồn tại hai khuynh hướng có nhiều điểm trái ngược nhau. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn chương trung đại (chủ yếu là thi ca) gạt bỏ cái “tôi”, chủ trương “phi ngã”. Theo Trần Đình Sử, thì Giáo sư Trần Đình Hượu quan niệm: “Nho giáo ko coi trọng cá nhân, không chú ý nhiều đến hạnh phúc và tự do cá nhân” [56]. Giáo sư Bùi Duy Tân viết: “Để đạt tham vọng giáo hối tác giả thường nêu bật đạo lý Thánh Hiền, thu nhỏ cá nhân mình lại... Văn học không cho phép cá nhân xuất hiện. Ngay trong cả các loại thơ như “Ngôn chí”, “Tự thuật”... quan niệm “phi ngã” vẫn thể hiện rõ” [15]. Giáo sư Lê Chí Dũng cũng cùng quan niệm khi khẳng định văn chương trung đại “chủ trương phi ngã, người ta gạt bỏ hài kịch, bi kịch, cái tôi cá nhân ra khỏi thơ văn” [29, 68]. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trước sau cũng luôn chủ trương như vậy. Với quan niệm “ý thức cá nhân là biểu hiện trình độ tự giác của con người cá thể về sự tồn tại có ý nghĩa của mình tronh đời sống và thái độ muốn khẳng định ý nghĩa ấy”, Giáo sư đi đến khẳng định: “Thời trung đại, ý thức cá nhân chưa phát triển, cá nhân hầu như muốn hòa tan trong cộng đồng gia trưởng” [39, 43]. Nhìn chung, khuynh hướng này thống trị việc đánh giá văn chương trung đại trong thời gian khá dài.

Vài năm trở lại đây xuất hiện một loạt ý kiến đăng tải trên Tạp chí Văn học, sắc thái, mức độ có thể khác nhau, nhưng đều tập trung phân tích cái “tôi” trong nền văn chương thời trung đại. Đó là các bài nghiên cứu “Vấn đề con người cá nhân trong văn học cổ - nhìn từ góc độ lý thuyết” (Số 3/1993) của Nguyễn Hữu Sơn, “Quan niệm về con người trong thơ thiền Lý – Trần” (Số 3/1993) của Đoàn Thị Thu Vân, “Bản ngã và cộng đồng trong và qua nền văn hóa, văn học Việt Nam” (Số 6/1993) của Trần Quốc Vượng, “Sáng tác thơ ca thời cổ và sự thể hiện cái tôi tác giả” (Số 6/1993), “Mối quan hệ giữa cái tôi nhà nho và thực tại trong văn chương cổ” (Số 2/1994) của Trần Nho Thìn, “Có những quan niệm về con người cá nhân của phương Đông không?” (Số 6/1995) của Huyền Giang, “Thời trung đại – cái tôi trong các học thuyết, trong đời sống và trong văn học” (Số 7/1995) của Trần Đình Sử...

Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng nếu thừa nhận ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng Đạo, Nho, Phật trong nền văn chương trung đại thì “tam giáo đều chủ trương lý tưởng phá ngã, vô ngã, vô kỷ nhưng không hề là một sự “diệt ngã” tuyệt đối” [55]. Nhà nghiên cứu Huyền Giang khẳng định mạnh mẽ hơn: “Ý thức về con người cá nhân... là một điều hiển nhiên ở phương Đông hay ở phương Tây, hay ở một chân trời nào khác”, đồng thời ông lưu ý: “Điều quan trọng hơn nằm ở chỗ khác: không có một quan niệm về con người cá nhân đồng nhất và thống nhất, mà có nhiều quan niệm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau” [24].

Thật ra, những nhà nghiên cứu gần đây đặt ra vấn đề cá nhân trong văn chương trung đại cũng không hoàn toàn mới lạ gì. Tư tưởng “vị ngã” của Dương Chu đến mức cực đoan. Nhà triết học cổ đại Trung Quốc thời Chiến Quốc này rất đề cao tự do cá nhân, yêu cầu tất cả phải vì con người, “bảo toàn bản tính và thiện chân” của con người. Mạnh Tử đã tóm tắt nhân sinh quan của ông bằng một câu ngắn gọn: “Dương Chu chủ vị ngã. Nhổ một sợi lông mà lợi cho thiên hạ cũng không làm” [24]. Nho giáo cũng hết sức coi trọng chữ “kỷ”. “Cổ chi học vị kỷ” (Luận Ngữ – Hiến vấn), “Cầu nhân do kỷ” (Luận Ngữ - Nhan Uyên). “Kỷ” là cái riêng, có nhu cầu được hiểu biết và cảm thông. Trong các loại ơn, người quân tử trọng nhất là ơn “tri ngộ”. “Sỹ vị tri kỷ giả tử” (kẻ sỹ sắn sàng chết cho người biết mình). Các nhà nho thường nói đến: tự kỷ, tự tỉnh, tự tại, tự ái, tự túc, tự lạc... Chu Hi bảo “tự khoái túc ư kỷ” là vì thế.

Đề cao cái “tôi” cũng không hoàn toàn xa lạ với truyền thống lý luận thi ca Trung Hoa. Viên Mai khái quát: “Tác thi, bất khả dĩ vô ngã” (làm thơ không thể không có cái tôi). Nhà lý luận thi ca danh tiếng này tán thành với Khổng Tử là làm người thì cần “vô cố” (không cố chấp) và “vô ngã” (không có cái tôi). Riêng làm thơ, theo Viên Mai, trái lại phải “hữu ngã”, thậm chí “trứ ngã” (làm rõ ràng cái tôi) [27,135].

Nhưng liệu chủ thể sáng tạo thi ca trong văn chương trung đại đã đạt đến mức cá thể hóa chưa? Thật khó tán đồng với Nguyễn Hữu Sơn khi ông viết: “Với toàn bộ loại hình văn học viết, mặc dù phương thức thể hiện ở từng thời đại có khác nhau, song đều chịu một sự chi phối chung: vai trò chủ thể sáng tạo được cá thể hóa, tác phẩm do chính cá thể viết” [40]. Cái tôi trong văn chương cổ có tồn tại nhưng chưa thể vương tới cái tôi được cá thể hóa với những nét riêng sâu đậm như sau này. Cái tôi ấy chủ yếu là cái tôi chức phận, gần với cái ta. Văn thơ phải “đạt ngô tâm” và “thích ngô ý” (đạt lòng ta, thỏa ý ta). Chữ “nhân” luôn yêu cầu “khắc kỷ” để “phục lễ” (Luận Ngữ). Giáo sư Phan Ngọc có lý khi cho rằng: “Người Việt không có thói quen tự xem mình là một cá nhân rồi căn cứ vào quyền lợi cá nhân, trước hết là quyền lợi kinh tế, để xây dựng các quan hệ” [47, 63]. Cố nhiên “lễ” ở đây không chỉ là những quy tắc ứng xử trong xã hội có tôn ty trật tự mà còn có ý nghĩa là “thiên lý”, đạo trời, lẽ trời. Nhưng “kỷ” rõ ràng luôn bị ước thúc bởi đạo lý, không dễ phóng khoáng, càng không dễ buông thả.

Chính thể thời trung đại không mấy thích hợp với đầu óc độc lập, táo bạo. Ở phương Tây đã thế, ở phương Đông nơi chế độ phong kiến kéo quá dài lại càng như thế. Chỉ có những bậc thiên tài mới mong thoát khỏi giới hạn của thời đại trong một mức độ nhất định. Điều này được thể hiện khá rõ rệt trong lịch sử văn chương Trung Quốc. I. S. Lisevich nhận xét: “Đối với tư tưởng văn học truyền thống từ Trung Quốc, cá tính sáng tạo không phải là một giá trị độc lập” [34, 240]. Chịu ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc nền văn minh Trung Hoa, Việt Nam thời trung đại khó có điều kiện đi ra ngoài quỹ đạo chung đó.

Song, tạo hóa sinh ra con người không ai hoàn toàn giống ai, từ hình hài đến nội tâm, từ thói quen đến sở thích, từ tư tưởng đến tình cảm. Một tác giả vô danh viết: “Nếu có một cách sâu hơn, mỗi trái tim của một người là ngọc trai chói sáng. Nó lặng thinh trong vũ trụ mà bốn phương tám hướng đều xoay quanh nó” [17, 169]. Kể cũng thật sáng suốt và táo bạo khi một quan niệm như thế được nảy sinh trong xã hội phong kiến vốn tìm mọi cách để gọt dũa con người thành một kiểu dạng chung để dễ bề cai trị. Vì vậy những bậc thức giả thời trước đã tìm đến văn chương như là một lãnh địa hiếm hoi cho phép cá nhân nảy nở, cố nhiên vẫn nằm trong khuôn khổ có giới hạn. Do đặc thù, “kiến thi như kiến nhân”, văn chương yêu cầu cao về tính độc đáo của sản phẩm sáng tạo. Lê Thánh Tông yêu cầu “văn nhân”: Cách điệu thanh cao ý tứ tân (Cách điệu thanh cao ý tứ mới lạ) [13, 333].

Ngô Thế Vinh ở thế kỷ XIX viết: “Đương khi cầm thẻ (sách vở), văn tự trước sau không giống nhau” [17, 218]. Văn thơ, với ông, như “trăm hoa”, mỗi loại mỗi vẻ. Không thế văn chương không có lý do tồn tại trong lòng người đọc. Một tác giả vô danh cũng đòi hỏi ở người cầm bút “nét lạ vút bay”, “tạo ý tân kỳ” [17, 215]. Vẻ “tân kỳ” luôn là mong mỏi chính đáng của người thưởng thức đối với thi ca. Chẳng thế mà Trần Bá Kiên đã chê các tác phẩm viết về nỗi “oán hận” có lúc xuất hiện tới tấp, có lúc thưa thớt nhưng chưa có “sự tân kỳ” [17, 61]. Trong khi Miên Trinh lại khen thơ của một người cùng thời là “diệu tứ của tiên sinh ít người giống được” [17, 97].

Vậy nên, thói “mô phỏng”, “bắt chước” là điều tuyệt đối cấm kỵ trong sáng tạo thơ văn. Ngay thư pháp (viết chữ) ngày trước cũng đòi hỏi phải sáng tạo mới được coi là nghệ thuật: “Phàm thư tượng kỳ vi nhân” (phàm chữ cũng giống người).

Đáng tiếc là ở ta do ảnh hưởng của thứ văn chương cử tử nên nơi này nơi khác, lúc này lúc kia bệnh rập khuôn chắp nhặt thực tế đã thành căn bệnh khá trầm trọng. Theo Nguyễn Văn Siêu thì việc “lấy thơ văn của Lý, Đỗ, Hàn, Liễu ra, cố gượng ép bắt chước lấy vài ba chữ” là một trong ba căn bệnh văn chương của người làm văn đương thời (Tạp chí Văn học, Số 4/1976, tr. 146). Cao Bá Quát tán thành ý của Khương Tây Minh khi chế nhạo “thói quen của những người say đắm vào thi thoại của các nhà, ăn món ăn của cổ nhân mà không tiêu hóa được” [41, 152]. Ông cương quyết chống lại thư thơ “mô phỏng quá nhiều mà gân cốt chưa cao, tô điểm có khéo nhưng tinh thần còn thấp” [41, 152]. Khi việc nào cũng bắt chước chuyện cũ, câu nào cũng học theo người xưa thì loại thi ca ấy phỏng có ích gì?

Trước tác của cổ nhân – những người mẫu mực của thời sau, đâu có thế. Họ luôn đi tìm điều sở đắc riêng trên cái căn bản của mình. Bùi Văn Dị viết: “Các thi gia xưa nay, ai cũng có sở trường riêng... Nếu dựa theo nếp cũ, cóp nhặt phép thường, thì chữ và câu dù có hay ho, tinh thần và ý tứ đã là kém cỏi” [10, 120]. Đấy là các nhà thơ. Theo Ninh Tốn thì ngay cả các bậc “Thánh Hiền thời xưa, không ai không tìm thấy được ở nơi mình, cho nên cái gọi là được thật là to lớn. Người sau mất cái mà mình được, bèn vội vàng tìm nó ở nơi người, tâm một ngày một vụng về, mà cái muốn được, cuối cùng không được” [17, 28]. Hiểu Khổng Mạnh như thế có thể xem là sáng suốt.

TRong nhiều điều hạn chế của Nho gia có không ít cái hay cần suy ngẫm học hỏi. Tuy cái hay thường chen lẫn với cái dở, sự phân biệt không phải lúc nào cũng dễ. Vì vậy óc độc lập trong học hỏi người, ngay cả các bậc Thánh nhân, luôn cần được đề cao. Người xưa từng khuyên nhủ “quân tử hòa nhi bất đồng” thì yêu cầu bản sắc của người hiền tài đâu có nhỏ. Nó có cội rễ sâu xa từ quan niệm Lý khí của thời xưa. Nguyễn Văn Siêu viết: “Có lẽ cái khí của con người không thể khiến nó quá căng, cũng không thể khiến nó quá lướt. Chỉ nên khéo nuôi dưỡng nó... khiến nó không mất sự chính trung, lâu ngày sẽ dần dà biến đổi, nên khi phát ra lời thì phẳng lặng, chân thật mà có sắc thái huy hoàng, vì cũng chỉ tìm nó ở nơi mình mà thôi” [41, 122]. Khí mỗi người mỗi khác. Hãy nương tựa vào bản khí của mình để viết văn làm thơ. Ngô Thế Vinh thường dặn học trò: “Làm văn làm thơ, ai nấy nên theo cái gì mà mình nhờ cậy gần nhất, chứ đừng rập khuôn” [17, 218].

Từ trong bản thể, thơ là như vậy. Mỗi bài mỗi vẻ, mỗi người mỗi vẻ. Nhữ Bá Sỹ quan niệm thơ là “cái tình điệu riêng của mọi người” [17, 231]. Con Đỗ Hạ Xuyên thì cho rằng làm thơ “để ghi lại sự kiểm nghiệm riêng mình” [17, 57]. Vì lẽ đó, Ngô Thì Sỹ khẳng định: “Thơ không thể bắt chước được” [41, 62]. Đã có lần chính ông không hài lòng với thơ mình chỉ vì những gì viết ra không mang dấu ấn riêng của bản thân. Trong khi ông đọc thơ hay của người khác thì nhận ra bản sắc cá biệt khá rõ: Riêng thấy bầy chim âu ngày ngày bay tới.

Rồi: Riêng thương đám cỏ thơm thoi thóp bên khe.

Hiển nhiên để tạo nên giọng điệu riêng trong nếp cảm nếp nghĩ quả không mấy dễ dàng. Sức bút phải thực sự dồi dào. Nguyễn Thượng Hiền thừa nhận khi viết “bút khô mực dít thành lối mòn”, vì vậy, “nếu không phải tay tài hùng và trí mạnh thì ẩn hiện đâu thể hết thảy đều như ý” [17, 101]. Thử thách thật lớn, nhiều mặt và triệt để. Muốn làm nên những áng danh văn, không có con đường nào khác. Nhữ Bá Sỹ tự nhủ mình: “Sức bút phải nên mới mẻ luôn luôn” [41, 131]. Có thể nói đó cũng là tâm niệm chung của những người cầm bút thực lòng mong muốn ngòi bút của mình có năng lực “nhập thần”. Lê Hữu Trác từng yêu cầu nhà thơ, nhà văn nên “bắt chước ngay chính tạo hóa” [41, 102]. Muôn loài, muôn vật đều do tạo hóa sinh ra nhưng không phải loài vật nào hoàn toàn giống nhau. “Con chim thay lông, không thay giọng hót” (Ngạn ngữ). Văn chương kỳ diệu có chung đặc tính ấy. Đó là để hướng tới cảm xúc thẩm mỹ của người đọc. Lê Hữu Kiều xác nhận: “Mỗi khi thấy thơ văn của bạn bè đương thời, phàm những câu mới lạ, nhiều lời bóng bẩy, không bao giờ là không gõ nhịp ngâm nga thưởng thức” [41, 56].