Người cùng với thơ hay

Thơ hay như vậy phải đượm tình. Mà “tình” thì không ngẫu nhiên bột phát. Lô gic ấy đưa người xưa tới việc lý giải thơ hay từ cái thế cùng quẫn dẫn đến đau khổ cả về vật chất lẫn tinh thần của người làm thơ. Ngô Thì Vị viết: “Thơ đến cảnh cùng mới hay” (Lời bạt “Cấn trai thi tập”). Đỗ Hạ Xuyên viết cụ thể hơn: “Nhưng người thơ hay sau này phần nhiều xuất phát từ cô thần nghịch tử, thú chinh phu, tao nhân mặc khách, tài nữ tình lang, vì họ là người đã trải qua sự khốn cùng mà được nó” [17, 235].

Có lẽ đây là quy luật sáng tạo chung của nghệ thuật, không cứ riêng thơ và riêng ở thời trước. Các nhà tâm lý học sáng tạo văn chương hiện đại từng đặt ra câu hỏi: Trạng thái nào đối với người nghệ sĩ năng sản hơn, bất hạnh hay hạnh phúc? Câu trả lời được nhiều người thừa nhận nghiêng về yếu tố đầu hơn yếu tố sau.Vậy nên, đường đời bằng phẳng thênh thang khó dẫn nhà thơ đến những đỉnh cao nghệ thuật.

Trong lịch sử thi ca dân tộc có sự gặp gỡ về ý tưởng thú vị giữa Nguyễn Du và Bùi Ngọc Quỹ khi hai người cùng viết về Khuất Nguyên. Ai cũng biết cuộc đời của tác giả “Ly tao” buồn nhiều hơn vui, cuối cùng ông phải trẫm mình xuống sông Mịch La tìm một lối thoát bi thảm. Khi đi qua dòng sông oan nghiệt kia, Nguyễn Du viết bài “Qua Tương Đàm điếu Tam lư Đại phu” trong đó có câu: Ví bằng hiến lệnh ban thiên hạ/ Sao có Ly tao nối Quốc phong?

Nếu để cho hiến lệnh được ban hành trong thiên hạ thì sao có được Ly tao nối tiếp được Kinh Thi? Cũng lấy cảm hứng từ dòng sông lịch sử ấy, Bùi Ngọc Quỹ đã gắn “Sở từ muôn thuở nức văn chương” với “tương thủy nghìn năm vang oán hận” (Qua Tương âm điếu Khuất Nguyên). Sự tương đồng về quan niệm đã đưa tới sự gặp gỡ giàu ý nghĩa trong ý thơ.

“Người cùng thì thơ hay” hầu như thành hướng suy nghĩ chung của phần đông thi nhân học giả thời trước ở Việt Nam và Trung Quốc. Âu Dương Tu đời Tống từng nói: “Thơ cùng thì sau mới hay” [41, 153]. Nếu cần phải dẫn chứng thêm từ lịch sử văn chương Trung Quốc thì có lẽ sau Khuất Nguyên phải nhắc tới Lý Lăng. Chung Vinh viết về ông: “Là hậu duệ của một dòng dõi danh gia, ông có một tài năng hiếm hoi, nhưng số phận thì lại bất hạnh... Nhưng nếu như Lăng không gặp nỗi đau khổ và thiếu thốn thì lẽ nào sáng tác của ông có thể đạt được sự hoàn thiện như vậy?” [34, 239].

Cách nhìn nhận của các nhà nho Trung Quốc và Việt Nam có xuất phát từ thực tế và cùng có cơ sở từ lời dạy của Thánh Hiền. Mạnh Tử chẳng đã nói: “Người ta có thuật nghiệp trí tuệ, thường thường là ở nơi hoạn nạn”. Nhắc lại câu nói của một trong những nhà tư tưởng lớn nhất của học phái Nho gia, Lương Khê giải thích: “Bởi vì riêng cái cảnh hoạn nạn thuận nghịch dễ bề tu tỉnh. Người đời xưa động tâm nhẫn tính, sở dĩ tăng thêm tài năng, mà hoàn thành toàn đức, không việc gì không nắm được tự hoạn nạn” [17, 45]. Lối lý giải của Lương Khê tỏ ra cớ sức thuyết phục. Hoàn cảnh ngang trái thách thức con người. Hầu hết sức lực, tâm lực, trí lực được huy động. Vượt qua thử thách, ý chí và nghị lực của con người lại đạt tới một tầm cao mới. Nói như Phan Huy Chú từ “bất đắc dĩ” đã tạo nên “đại đắc lực” [17, 103]. Nội lực của người làm thơ truyền vào tác phẩm làm nên sức sống, sức lay động của những vần thơ. Nguyễn Án trong lời Tựa “Đông dã học ngôn chí” có cùng một cách suy nghĩ như Lương Khê: “Người thì vùi dập, uất ức, hoài tài phụ khí, sự vật uẩn súc ở trong lòng, nhiều hình trạng ly kỳ, quỷ quái, phẫn uất, lo buồn dễ lộ ra trong thơ ca nên thường là những giọng tích chứa oán hận, chỉ trích sâu xa, rất u uẩn” [19].

Do vậy, nhận xét sau của Đinh Thị Minh Hằng tỏ ra không mấy thuyết phục: “Đi sâu vào bản chất quan niệm “người cùng thì thơ mới hay”, cho thấy quan niệm này đã phần nào nêu lên được nguyên lý thơ phải gắn liền với cuộc sống” [19]. Đúng hơn quan niệm “người cùng thì thơ mới hay” gắn chặt với vai trò của chủ thề sáng tạo hơn là khách thể thẩm mỹ.

Đây đó cũng có một số học giả thời trước không hoàn toàn tán đồng với quan niệm gắn “thơ hay” với “người cùng”. Tiêu biểu nhất là Lê Hy Thường. Ông đã phản đối rất quyết liệt: “Người xưa nói: Cùng thì thơ hay. Tôi nhắc đi nhắc lại câu này bất giác cười ngất và nói: Ôi kẻ sỹ đúng là kẻ sỹ, vì muốn thơ hay mà phải chịu khốn cùng chăng? Thơ tôi không hay phải chăng vì tôi không cùng khốn?” [17, 124]. Lê Hy Thường không tán đồng là bởi ông quan tâm đến kết quả cuối cùng. Làm được thơ hay đâu có dễ. Từ động cơ đến hiệu quả, từ ý đồ đến thành phẩm lệ thuộc vào bao điều kiện. Nhiều người rơi vào cảnh cùng mà nào có thơ hay.

Đó cũng là nguyên cớ chính khiến Cao Bá Quát không hoàn toàn phản đối cũng không hoàn toàn đồng tình quan niệm “người cùng thì thơ hay”. Ông viết: “Những người cùng khổ làm thơ chưa chắc bài nào cũng hay cả, mà những người hiển đạt làm thơ cũng không phải là không hay”. Thế rồi Cao Bá Quát đi tới kết luận: “Hay hay không là tại người mà thôi”. Không nên phán đoán chung chung. Có người gặp cảnh cùng thì đạt chí cất lên những vần thơ hào sảng, lại có người rơi vào cảnh cùng thì nản chí nên chỉ viết ra những câu thơ buồn thảm “hoang lạnh hiu hắt thê lương” (Ngô Thì Vị) [17, 108], “có thể có ý vị triết lý nhưng không có cái thực” (Ngô Thì Chí – Tạp chí Văn học, Số 6/1981). Không thề không phân định rạch ròi điều này. Hai trạng thái, hai phẩm chất khác nhau rất xa. Theo Tôn Hành Thị, trong lúc hoạn nạn, có những tác phẩm “phần nhiều ấm ức nghẹn ngào” lại có những tác phẩm như thơ của Lý Văn Phức “vần chất ngất, có cái phong thái thân nhàn khí định” [17, 132]. Mới hay người xưa thật tinh tường. Điều gì đi ngược lại bản chất của thi ca chân chính đều khó được chấp nhận.